https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/issue/feedTạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam2026-07-14T04:05:23+00:00Open Journal Systems<p>Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam thuộc Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam là diễn đàn trao đổi thông tin khoa học và hoạt động của chuyên ngành Điện quang và Y học hạt nhân trên cả nước. Tạp chí xuất bản 4 số tiếng Việt và 1 số tiếng Anh/năm, đăng tải các công trình nghiên cứu khoa học, bài tổng quan, bài ca lâm sàng hay cũng như các thông tin hoạt động của Hội... tạo điều kiện trao đổi khoa học, kinh nghiệm giữa hội viên Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam và các Hội chuyên ngành khác. Ban biên tập rất mong nhận được sự cộng tác viết bài của các tác giả cho Tạp chí.</p>https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1555ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH HỌC VÀ KẾT QUẢ DẪN LƯU ÁP XE RUỘT THỪA QUA DA DƯỚI HƯỚNG DẪN SIÊU ÂM SAU 12 THÁNG TẠI TRUNG TÂM ĐIỆN QUANG, BỆNH VIỆN BẠCH MAI2026-04-16T01:15:00+00:00TS Lê Văn Khảngdrkhang2006@gmail.comThS Đoàn Thị Kiều Oánhoanhdoan991996@gmail.comBS Nguyễn Thị Thu Thảotapchidqyhhnvn@gmail.comBS Nguyễn Thị Khơitapchidqyhhnvn@gmail.comBS Lê Thị Yếntapchidqyhhnvn@gmail.comPGS Vũ Đăng Lưutapchidqyhhnvn@gmail.comTóm tắt Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh áp xe ruột thừa trên siêu âm, cắt lớp vi tính và kết quả dẫn lưu áp xe ruột thừa qua da dưới hướng dẫn siêu âm sau 12 tháng tại Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp: 19 bệnh nhân được chẩn đoán áp xe ruột thừa được tiến hành điều trị bảo tồn kháng sin kết hợp với dẫn lưu ổ áp xe dưới hướng dẫn siêu âm ở Trung tâm điện quang bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 4 năm 2025. Kết quả: Nghiên cứu trên 19 bệnh nhân (10 nam và 9 nữ), tuổi trung bình là 47 tuổi. Trên siêu âm và cắt lớp vi tính, 18 BN có ổ áp xe ở hố chậu phải chiếm tỷ lệ 94.74%. 01 BN (5,26%) có ổ áp xe vùng hố chậu trái. Quan sát thấy hình ảnh ruột thừa trong ổ áp xe ở 12 trường hợp BN (63,16%) trên siêu âm và tất cả các bệnh nhân trên cắt lớp vi tính. Kích thước trung bình của ổ áp xe trong nghiên cứu 48,75 ± 13,12mm. Tỷ lệ thành công của dẫn lưu là 100%. Không trường hợp nào có biến chứng. Theo dõi trong vòng 12 tháng sau điều trị, 78,94% không bị tái phát, trong đó 31.58% bệnh nhân không phẫu thuật ngắt quãng. Kết luận: Dẫn lưu áp xe ruột thừa qua da dưới hướng dẫn siêu âm là phương pháp xâm lấn tối thiểu, an toàn và cho hiệu quả tương đối tốt. Từ khóa: áp xe ruột thừa, điều trị bảo tồn, dẫn lưu ổ áp xe dưới hướng dẫn siêu âm2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1548VAI TRÒ CỦA 18F-FDG PET/CT TRONG LẬP KẾ HOẠCH XẠ TRỊ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN III2026-04-01T04:43:59+00:00PHẠM THÀNH LUÂNdr.phamthanhluan@gmail.comBS Cao Văn Khánhtapchidqyhhnvn@gmail.comBS Phạm Viết Hoạttapchidqyhhnvn@gmail.comBS Nguyễn Đức Côngtapchidqyhhnvn@gmail.comBS Nguyễn Thái Nguyêntapchidqyhhnvn@gmail.comBS Vũ Văn Bắctapchidqyhhnvn@gmail.comBS Nguyễn Minh Tuấntapchidqyhhnvn@gmail.comBS Nguyễn Thị Thanh Thúytapchidqyhhnvn@gmail.comMục tiêu: Đánh giá vai trò của 18F-FDG PET/CT trong việc thay đổi giai đoạn bệnh, thể tích xạ trị và các thông số liều cơ quan lành trong lập kế hoạch xạ trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ so sánh trong cùng bệnh nhân được thực hiện trên 101 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III được xạ trị triệt để. Trên mỗi bệnh nhân, thể tích xạ trị được vẽ lần đầu dựa trên CT mô phỏng thường quy và vẽ lại khi tham khảo thêm hình ảnh 18F-FDG PET/CT. Hai kế hoạch xạ trị 3D-CRT tương ứng được lập với cùng liều điều trị và cùng tiêu chuẩn cơ quan lành. Các thay đổi về giai đoạn bệnh, thể tích lập kế hoạch PTV (planning target volume) bướu, hạch, PTV tổng và các thông số liều lên cơ quan lành được so sánh bằng các phép kiểm thống kê cặp. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 62,0 ± 8,9; nam giới chiếm 76,2%. PET/CT làm thay đổi giai đoạn bệnh ở 15/101 bệnh nhân (14,9%, không bao gồm các ca bệnh phát hiện tăng giai đoạn vượt quá khả năng xạ trị), trong đó tăng giai đoạn ở 13 ca (12,9%) và giảm giai đoạn ở 2 ca (2,0%). Thể tích PTV tổng thay đổi ở 38/101 bệnh nhân (38,0%), gồm tăng ở 22 ca (22,0%) và giảm ở 16 ca (16,0%); tuy nhiên thể tích PTV tổng trung bình có khác biệt không có ý nghĩa thống kê (276,6 cc so với 275,2 cc; p = 0,753). Thể tích PTV của bướu nguyên phát thay đổi ở 20/101 bệnh nhân (19,8%) và không có sự khác biệt có ý nghĩa về giá trị trung bình (p = 0,282). Thể tích PTV hạch thay đổi ở 28/101 bệnh nhân (27,7%); PET/CT phát hiện hạch di căn mới ở 21/101 bệnh nhân (20,8%), nhưng sự khác biệt trung bình của PTV hạch không có ý nghĩa thống kê (p = 0,675). Về liều cơ quan lành, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với liều tối đa tủy sống (p = 0,871), V20 phổi (p = 0,966), liều trung bình thực quản (p = 0,087) và V50 tim (p = 0,412). Liều trung bình tim tăng nhẹ khi lập kế hoạch dựa trên PET/CT (8,50 Gy so với 8,68 Gy) (p = 0,036), trung bình thể tích thực quản nhận 60Gy cũng tăng nhẹ từ 5,31% lên 5,66% (p = 0,014). Kết luận: 18F-FDG PET/CT làm thay đổi đánh giá giai đoạn và thể tích đích xạ trị ở một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III, đặc biệt trong đánh giá hạch vùng. Việc bổ sung PET/CT không làm thay đổi đáng kể hầu hết các thông số liều cơ quan lành, mặc dù ghi nhận sự tăng nhẹ liều trung bình tim; ý nghĩa lâm sàng của các thay đổi này cần được nghiên cứu thêm.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1406GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ KHUẾCH TÁN SỨC CĂNG TRONG DỰ ĐOÁN ĐỘ MÔ HỌC U TẾ BÀO THẦN KINH ĐỆM LAN TỎA Ở NGƯỜI LỚN2025-08-01T09:34:13+00:00Lương Nguyễn Quốc Hưnghungluong63@gmail.comBS Võ Phương Trúctapchidqyhhnvn@gmail.comBS Đỗ Hải Thanh Anhtapchidqyhhnvn@gmail.comMục tiêu: Xác định giá trị của cộng hưởng từ khuếch tán sức căng trong dự đoán độ mô học u tế bào thần kinh đệm lan tỏa ở người lớn bằng các thông số FA, MD, AD và RD. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả bao gồm 38 người bệnh có giải phẫu bệnh xác đinh là u tế bào thần kinh đệm lan tỏa, được điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM từ 01/2020 đến 04/2024. Có hình ảnh cộng hưởng từ thường quy và cộng hưởng từ khuếch tán sức căng trước phẫu thuật. Các thông số khuếch tán trung bình, khuếch tán theo trục, khuếch tán hướng tâm, phân suất bất đẳng hưởng được đo đạc tại tại và vùng quanh u. Các thông số trên cộng hưởng từ khuếch tán sức căng và độ ác của u được phân tích thống kê, đồng thời phân tích đường cong ROC được thực hiện để xác định giá trị chẩn đoán. Kết quả: Giá trị của các thông số MD, AD và RD tại u (tMD, tAD, tRD) và FA vùng quanh u (pFA) khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm u tế bào thần kinh đệm lan tỏa độ thấp và độ cao. Kết luận: Giá trị của các thông số tMD, tAD, tRD và pFA cho thấy tiềm năng trong việc phân biệt u thần kinh đệm lan tỏa độ thấp và độ cao.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1474Contrast-Enhanced Mammography Guided Breast Biopsy: Case-Series Report2025-10-30T09:45:19+00:00Lê Nguyệt Minhlnminh85@gmail.comBS Nguyen Xuan Hientapchidqyhhnvn@gmail.comObjectives: Describing technique and application of Contrastenhanced mammography (CEM) guided breast biopsy in early diagnostic breast cancer in Vietnam. Methods: cross - descriptive study with 6 biopsies under CEM-guided which were performed at Tam Anh hospital from June to July, 2025. Results: 86 women (mean age 46.3 ± 3.2) with 8 enhancing lesions which were biopsied under CEM-guided, they were mesured average 7.7 ± 3.0 (mm) in the largest dimension, min – max interval was 2.8 – 12mm. One invasive carcinoma was revealed (12,5%), as an strong enhancing mass on CEM, which was not relevant to the lesion on ultrasound (BIRADS 3); the rest of cases were moderate enhancement, heterogenous and wash-out characteristics on CEM and MRI; 5 cases were not detected on ultrasound and tomosynthesis. The mean time of procedure was 13.9 ± 5.1 minutes, average amount of contrast materials were 83.2 ± 9.6 ml Iopamiro 370, average amount of diluted Lignospan (1:4) were 3.9 ± 1.0 ml. Mean average gladular dose (AGD) were 26.2 ± 12.4 mGy. No major complications were recorded, all patients were completely recovered post procedure 1 day, no analgesic was needed.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1570ĐẶC ĐIỂM CỘNG HƯỞNG TỪ CỦA U XƠ ĐƠN ĐỘC NỘI SỌ: BÁO CÁO 9 TRƯỜNG HỢP2026-05-11T04:02:39+00:00Tạ Hồng Nhungtahongnhung94@gmail.comThạc sĩ Thiều Mạnh Cườngdr.tmcuong@gmail.comNgô Lê Lâmlamntxq28@gmail.comMục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của u xơ đơn độc nội sọ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu 9 bệnh nhân u xơ đơn độc nội sọ được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học và hóa mô miễn dịch, được chụp CHT não 1,5 Tesla (T1W, T2W, FLAIR, DWI, T1W sau tiêm Gadolinium). Đánh giá hình thái, tín hiệu, đặc điểm chân bám màng cứng, ngấm thuốc, DWI và chỉ số ADC tương đối (rADC = ADC min/ADC chất trắng não bình thường). Kết quả: Tuổi trung bình 49,2 ± 11,9 tuổi; nữ/nam = 6/3. Tất cả 9 u là tổn thương ngoài trục bám màng cứng với đường kính trung bình 59,0 ± 10,1mm. Đặc điểm nổi bật: 100% chân bám hẹp (tỷ lệ chân bám/đường kính u = 0,61 ± 0,13); 77,8% hình thùy múi; 77,8% đường thấp tín hiệu T2W đặc trưng trong lòng u; ngấm thuốc rõ rệt 100% (không đồng nhất 55,6%); flow void 77,8%; hạn chế khuếch tán trên DWI 55,6%; rADC trung bình 1,012 ± 0,278 với xu hướng giảm theo độ WHO (độ I: 1,174; độ II: 0,853; độ III: 0,606). Không gặp vôi hóa hay chảy máu trong u. Kết luận: Các dấu hiệu CHT đặc trưng gồm chân bám hẹp, hình thùy múi, và flow void, kết hợp với rADC, giúp chẩn đoán phân biệt UXĐĐNS với u màng não.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1558ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH VÀ CỘNG HƯỞNG TỪ CỦA U CƠ MỠ MẠCH GAN: PHÂN TÍCH HỒI CỨU 16 TRƯỜNG HỢP2026-05-07T13:11:46+00:00Đoàn Thị Minh Phươngdtmp1998@gmail.comTS Lê Văn Khảngtapchidqyhhnvn@gmail.comPGS Vũ Đăng Lưutapchidqyhhnvn@gmail.comMục tiêu: Mô tả các đặc điểm hình ảnh trên cắt lớp vi tính (CLVT) và cộng hưởng từ (MRI) của u cơ mỡ mạch gan (Hepatic Angiomyolipoma - HAML) Đối tượng và phương pháp: Mô tả chùm ca bệnh, phân tích hồi cứu hình ảnh CT/MRI của 16 bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định HAML qua giải phẫu bệnh tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 1 năm 2026. Các đặc điểm được đánh giá bao gồm: thành phần mỡ, kiểu ngấm thuốc, mạch máu nuôi, tĩnh mạch dẫn lưu sớm và vỏ bao ngấm thuốc thì muộn. Kết quả: Nhóm 16 bệnh nhân (75% nữ và 25% nam), tuổi trung bình là 46,3. Trên hình ảnh biểu hiện kích thước trung bình của khối u là 47.6mm, đa số có ranh giới rõ (94%). Mỡ đại thể được phát hiện ở 11/16 ca (69%). Về tính chất ngấm thuốc, 81% khối u ngấm thuốc không đồng nhất; đặc biệt có 7 ca (44%) biểu hiện thải thuốc (washout) ở thì tĩnh mạch cửa. Dấu hiệu tĩnh mạch dẫn lưu sớm (early draining vein) gặp ở 9 ca (56%), mạch máu xoắn trong khối u (twisted-vessel sign) gặp ở 8 ca (50%). Dấu hiệu hạn chế khuếch tán rõ ràng (tăng tín hiệu mạnh trên DWI và giảm tín hiệu trên ADC) chỉ xuất hiện ở 2 ca (17%). Đáng chú ý, 15/16 ca (94%) không quan sát thấy hình ảnh vỏ bao ngấm thuốc thì muộn. Kết luận: U cơ mỡ mạch gan (HAML) là một khối u trung mô lành tính, tuy nhiên việc chẩn đoán trên hình ảnh còn gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc vào thành phần của khối u. Sự hiện diện của mỡ đại thể là dấu hiệu chẩn đoán quan trọng nhất. Tuy nhiên, đối với các trường hợp nghèo mỡ có tính chất thải thuốc dễ nhầm với HCC, sự xuất hiện của tĩnh mạch dẫn lưu sớm, mạch máu xoắn trong khối u và sự vắng mặt của vỏ bao thì muộn là những gợi ý quan trọng hướng tới HAML.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1446GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA 18F-FDG PET/CT, CT VÀ CA 12-5 TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ BUỒNG TRỨNG TÁI PHÁT2026-04-16T03:54:32+00:00Trần Thế Hoànghoangtranthe1998@gmail.comPhạm Văn Tháitapchidqyhhnvn@gmail.comTS Mai Hồng Sơntapchidqyhhnvn@gmail.comBs Lê Ngọc Hàtapchidqyhhnvn@gmail.comMục tiêu: Đánh giá giá trị của 18F-FDG PET/CT, CT và CA 12-5 trong ung thư biểu mô buồng trứng tái phát. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu trên 74 bệnh nhân tại bệnh viện K (cơ sở Tân Triều) từ tháng 01/2023 đến tháng 8/2024. Bệnh nhân chẩn đoán ung thư biểu mô buồng trứng sau điều trị ổn định ít nhất 6 tháng, đánh giá nghi ngờ bệnh tái phát, được chụp PET/CT đánh giá tình trạng tái phát của bệnh. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 59,2 ± 8,5 năm. Phương tiện phát hiện nghi ngờ tái phát phổ biến nhất là xét nghiệm CA 12-5 huyết thanh tăng cao (≥ 35 U/ml), ghi nhận ở 69 bệnh nhân (chiếm 93,2%). Di căn phúc mạc được phát hiện bằng PET/CT ở 40 bệnh nhân (59,7%) và bằng CT ở 22 bệnh nhân (51,2%). PET/CT cho thấy độ nhạy 97,1%, độ đặc hiệu 80%, độ chính xác 95,9%, giá trị tiên đoán dương tính 98,5% và giá trị tiên đoán âm tính 66,7%. Trong khi đó, xét nghiệm CA 12-5 huyết thanh tăng cao có độ nhạy 92,6%, độ đặc hiệu 20%, độ chính xác 86,5%, giá trị tiên đoán dương tính 94% và giá trị tiên đoán âm tính 16,7%; còn CT có độ nhạy 62,3%, độ đặc hiệu 60,0%, độ chính xác 62,1%, giá trị tiên đoán dương tính 95,6% và giá trị tiên đoán âm tính 10,3%. Kết luận: 18F-FDG PET/CT là phương pháp vượt trội trong chẩn đoán tái phát ở bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng so với phương phát thông thường như CT và xét nghiệm CA 12-5 huyết thanh. Từ khóa: Ung thư biểu mô buồng trứng tái phát, di căn phúc mạc, 18F-FDG PET/CT, CA 12-52026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1571VIÊM GÂN VÔI HÓA CƠ DÀI CỔ BIỂU HIỆN GIẢ ÁP-XE SAU HẦU: BÁO CÁO CA BỆNH VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN2026-06-01T08:19:26+00:00Trần Đức Tuấnductuantranvo2212@gmail.comBS Nguyễn Tiến Longtapchidqyhhnvn@gmail.comBS Trần Ngọc Thuý Hằngtapchidqyhhnvn@gmail.comBS Trần Thị Thu Hươngtapchidqyhhnvn@gmail.comBS Tôn Nữ Trà Mytapchidqyhhnvn@gmail.comĐặt vấn đề: Viêm gân vôi hóa cơ dài cổ (Acute Calcific Tendinitis of the Longus Colli – ACTLC, hay còn được biết đến với tên gọi khác Retropharyngeal Calcific Tendinitis – RCT) là một tình trạng viêm vô khuẩn lành tính, hiếm gặp do lắng đọng calci hydroxyapatite. Do biểu hiện lâm sàng đặc trưng bởi tam chứng đau cổ cấp, nuốt đau và hạn chế vận động cổ, bệnh lý này rất dễ bị chẩn đoán nhầm với các nhiễm trùng vùng cổ sâu nguy hiểm, đặc biệt là áp-xe sau hầu. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của một trường hợp viêm gân vôi hóa cơ dài cổ, đồng thời nhấn mạnh các dấu hiệu giúp phân biệt với áp-xe sau hầu và định hướng xử trí bảo tồn hiệu quả. Đối tượng và phương pháp: Báo cáo ca bệnh (case report) tuân thủ hướng dẫn CARE. Dữ liệu được thu thập từ một bệnh nhân nữ 41 tuổi nhập viện vì hội chứng cổ gáy cấp tính, dựa trên hồ sơ bệnh án, xét nghiệm cận lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), X-quang cột sống cổ, quá trình điều trị bằng thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) và theo dõi diễn tiến lâm sàng. Kết quả: Hình ảnh MRI và X-quang cột sống cổ bộc lộ mảng vôi hóa đặc trưng tại bờ trước dưới đốt sống C1–C2 (vị trí bám của gân cơ dài cổ) kèm dịch và phù nề lan tỏa khoang sau hầu từ C2 đến C4. Các dấu hiệu âm tính quan trọng bao gồm: không có ổ tụ mủ khu trú, không bắt thuốc viền và không có khí tự do bên trong mô mềm. Bệnh nhân đáp ứng rất nhanh với liệu pháp kháng viêm bảo tồn bằng Naproxen và giảm đau phối hợp; triệu chứng thuyên giảm rõ rệt sau vài giờ và hồi phục lâm sàng hoàn toàn sau 5 ngày. Kết luận: Nhận diện đúng ACTLC dựa trên sự hiện diện của vôi hóa trước C1–C2 và phù nề khoang sau hầu không tạo mủ là chìa khóa giúp bác sĩ lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh định hướng xử trí bảo tồn hiệu quả, tránh điều trị quá mức.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1123ĐẶT ĐỊNH VỊ ĐỊNH VỊ DƯỚI HƯỚNG DẪN CẮT LỚP VI TINH TRƯỚC PHẪU THUẬT NỘI SOI NỐT PHỔI2024-05-20T03:33:37+00:00Lê Thị Hồng Thủylththuy1999@gmail.comBác sĩ Chuyên khoa II Nguyễn Thị Mỹ Xuân Anmyxuanan2002@gmail.comBác sĩ Chuyên khoa II Nguyễn Huỳnh Nhật Tuấnnhattuan_234@yahoo.comCử nhân Bùi Văn Phẩmbvpham@gmail.comVới việc khám sức khỏe định kỳ đặc biệt tầm soát bằng chụp cắt lớp vi tính (CLVT, CT) phổi liều thấp, nhiều bệnh nhân ung thư phổi hay có nốt phổi nhỏ được phát hiện sớm. Phẫu thuật nội soi lồng ngực là phương pháp chẩn đoán và điều trị xâm lấn tối thiểu được áp dụng rộng rãi đối với các nốt phổi có thể cắt được. Tuy nhiên, những nốt nhỏ nằm sâu, hay những nốt kính mờ, nốt bán đặc lại gây khó khăn cho phẫu thuật viên. Hiện nay, nhiều phương pháp trước và trong mổ phát triển có thể giúp định vị nốt phổi dễ dàng hơn khi mổ. Các phương pháp giúp xác định vị trí nốt phổi trước mổ như là tiêm chất chỉ thị màu, hạt phóng xạ, đặt cuộn kim loại hay đặt kim dây định vị. Chúng tôi đã thực hiện đặt kim định vị dưới hướng dẫn CT giúp xác định vị trí và cắt bỏ chính xác nốt phổi. Sau khi đặt định vị nốt phổi, bệnh nhân phải hạn chế hoạt động để tránh di lệch vị trí nốt phổi, tăng tỷ lệ thất bại của ca mổ, đồng thời hạn chế biến chứng tràn khí màng phổi, đau vị trí kim hoặc chảy máu phổi. Dù có những hạn chế nhất định, lợi ích định vị nốt phổi dướng hướng dẫn CT mang lại vẫn được xem là vượt trội hơn so với nguy cơ. Bài viết này nhằm giới thiệu các phương pháp định vị nốt phổi dưới dướng dẫn CT với hiệu quả và ưu nhược điểm của chúng.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1518Chẩn đoán hình ảnh thể "hạt gạo" (Rice Body) trong tổn thương khớp: Báo cáo ca bệnh, chẩn đoán phân biệt và tổng quan y văn2025-11-18T02:58:50+00:00Nguyễn Quỳnh Giangdr.quynhgiang@gmail.comCKI Nguyễn Thanh Hảinguyenthanhhai0974@gmail.comThs Nguyễn Thị Thùy Linhv.linhntt112@vinmec.comKTV Trịnh Văn Mạnhv.manhtv2@vinmec.comKTV Phan Đình Huyv.huypd5@vinmec.com- Mục tiêu: Trình bày một vài trường hợp thể hạt gạo trong khớp, phân tích đặc điểm chẩn đoán hình ảnh, nguyên nhân, các chẩn đoán phân biệt và hướng tiếp cận điều trị. - Phương pháp: Báo cáo các ca bệnh có hình ảnh MRI điển hình, kết hợp lâm sàng và cận lâm sàng. - Kết quả: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là viêm màng hoạt dịch thể hạt gạo do lao và do viêm khớp dạng thấp, xử trí bằng nội soi khớp và điều trị nội khoa. - Kết luận: Thể hạt gạo là biểu hiện không đặc hiệu, có thể gặp trong nhiều bệnh lý, MRI là phương tiện chẩn đoán quan trọng giúp phân biệt với các nguyên nhân khác.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namhttps://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1566Nhân một trường hợp lách lạc chỗ trong lồng ngực giả dạng u lympho: một thách thức trong chẩn đoán2026-06-01T08:09:56+00:00Nguyễn Trần Ngọc Trinhdr.ngoctrinh215@gmail.comBSCKII Phùng Hưnghung.phung1@gmail.comTóm tắt: Lách lạc chỗ là khi lách không ở vị trí giải phẫu bình thường mà nằm ở những vị trí khác nhau trong cơ thể. Đây là trường hợp hiếm gặp trong y văn, nhất là lách lạc chỗ trong lồng ngực. Lách lạc chỗ trong lồng ngực có hình ảnh không đặc hiệu và dễ nhầm lẫn với các chẩn đoán khác, tạo nên nhiều thách thức trong chẩn đoán. Chúng tôi xin báo cáo trường hợp hiếm gặp được phát hiện ở Bệnh viện đa khoa tỉnh với chẩn đoán xác định là lách lạc chỗ trong lồng ngực tuy nhiên trước đó đã chẩn đoán nhầm là u lympho lồng ngực bên trái. Case lâm sàng: Bệnh nhân nam 70 tuổi, vào viện vì ho và thỉnh thoảng đau ngực trái, tiền sử đã phẫu thuật cắt lách do chấn thương. Khám lâm sàng không phát hiện bất thường, các xét nghiệm công thức máu không thấy dấu hiệu nhiễm trùng, marker ung thư không thấy tăng, được chỉ định Chụp X-quang ngực thường quy phát hiện tổn thương khá kín đáo từ màng phổi trung thất thuỳ trên bên trái, bệnh được chụp cắt lớp vi tính kiểm tra thêm, chẩn đoán ban đầu là u màng phổi trái, được tiến hành sinh thiết tổn thương làm giải phẫu bệnh và hoá mô miễn dịch đồng thời, kết quả cho ra u lympho, bệnh được điều trị hoá chất hơn 03 tháng nhưng không đáp ứng điều trị sau hai lần chụp cắt lớp vi tính thấy tổn thương không thay đổi về hình thái, tính chất, kích thước. Các bác sĩ lâm sàng nghi ngờ về chẩn đoán ban đầu, tiến hành hội chẩn lại với bác sĩ giải phẫu bệnh, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, làm lại hoá mô miễn dịch, kết quả cuối cùng là một trường hợp lách lạc chỗ trong lồng ngực. Kết luận: Lách lạc chỗ trong lồng ngực là trường hợp hiếm gặp trong y văn. Các đặc điểm hình ảnh trên X-quang thường quy, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ không đặc hiệu và dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác, tạo ra nhiều thách thức cho các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Cần cân nhắc đặt ra chẩn đoán này khi bệnh nhân có tổn thương trong lồng ngực bên trái và có tiền sử cắt lách do chấn thương trước đó.2026-04-01T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam