Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm
<p>Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam thuộc Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam là diễn đàn trao đổi thông tin khoa học và hoạt động của chuyên ngành Điện quang và Y học hạt nhân trên cả nước. Tạp chí xuất bản 4 số tiếng Việt và 1 số tiếng Anh/năm, đăng tải các công trình nghiên cứu khoa học, bài tổng quan, bài ca lâm sàng hay cũng như các thông tin hoạt động của Hội... tạo điều kiện trao đổi khoa học, kinh nghiệm giữa hội viên Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam và các Hội chuyên ngành khác. Ban biên tập rất mong nhận được sự cộng tác viết bài của các tác giả cho Tạp chí.</p>Hội Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namvi-VNTạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam1859-4832Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh cộng hưởng từ của ung thư đường mật trong gan típ ống nhỏ tại Bệnh viện Bạch Mai
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1569
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh cộng hưởng từ của ung thư đường mật trong gan típ ống nhỏ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu, thu thập dữ liệu từ 30 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đường mật trong gan típ ống nhỏ tại Bệnh viện Bạch Mai (1/2021 -11/2025). Kết quả: Tuổi trung bình 57,7 ± 10,7;cao nhất ở nhóm tuổi 50–70 (66,7%), nam chiếm 56,7%. Thường không có triệu chứng (43,3%), đau bụng (33,3%), vàng da (16,7%). CA 19-9 tăng 30,0%, HBsAg dương tính 33,3%. Trên cộng hưởng từ, thể khối chiếm ưu thế (96,7%), kích thước ≥ 5 cm chiếm 53,3%, bờ rõ 73,3%, co kéo bao gan 60,0%. Tổn thương giảm tín hiệu trên T1W (93,3%), tăng tín hiệu trên T2W (96,7%), hạn chế khuếch tán (100%). Dấu hiệu “target sign” gặp ở 36,7% trên T2W và 53,3% trên DWI. Ngấm thuốc đặc trưng gồm ngấm viền thì động mạch (83,3%), tăng dần ở thì tĩnh mạch (93,3%); thì muộn ngấm tăng dần vào trung tâm (76,7%) và ngấm duy trì (20%), thải thuốc hiếm (3,3%). Xâm lấn mạch 3,3% và di căn hạch 30,0%; đa số không giãn đường mật (83,3%). Kết luận: Ung thư đường mật trong gan típ ống nhỏ có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn, xét nghiệm không đặc hiệu. Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ có giá trị trong định hướng chẩn đoán.Trần Thị CúcTS Lê Văn KhảngBS Đoàn Thị Kiều OánhBS Phạm Văn TuyếnBS Nguyễn Văn TúPGS Vũ Đăng Lưu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-056341410.55046/vjrnm.63.1569.2026LIỀU XẠ HIỆU DỤNG VÀ NGUY CƠ UNG THƯ DO BỨC XẠ ION HOÁ TỪ CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH HỆ TIẾT NIỆU KHÔNG TIÊM THUỐC CẢN QUANG
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1461
Bối cảnh và mục tiêu Ngày nay chụp cắt lớp vi tính (CLVT) hệ tiết niệu được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán sỏi hệ tiết niệu vì có thể đạt độ nhạy 97% và độ đặc hiệu 95%. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi CLVT hệ tiết niệu có những lo ngại về mức độ tiếp xúc cao với bức xạ ion hoá. Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm về liều xạ và nguy cơ ung thư tăng thêm trong chụp CLVT hệ tiết niệu không thuốc cản quang. Phương pháp Bệnh nhân chụp hệ tiết niệu không tiêm thuốc cản quang trên máy CLVT 64 dãy 128 lát cắt GE Revolution Maxima từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 07 năm 2025. Các chỉ số cơ thể được ghi nhận bao gồm: đường kính trước sau (AD), đường kính ngang (TD), đường kính hiệu dụng (ED), bề dày lớp mỡ dưới da (STF), diện tích bề mặt cơ thể (BSA); các thông số về liều xạ như thể tích chỉ dẫn liều tia cắt lớp vi tính (CTDIvol), giá trị liều theo chiều dài (DLP) và tính toán liều hiệu dụng (E); chỉ số LAR (Lifetime attributable risk)- nguy cơ ung thư tăng thêm trong suốt cuộc đời do phơi nhiễm bức xạ được tính toán thông qua công cụ trực tuyến XrayRisk. Kết quả Nghiên cứu trên 95 bệnh nhân (51 nam, 44 nữ; 52 tuổi 17,5). Các giá trị trung bình của chỉ số cơ thể lần lượt là: Vòng bụng = 83 9,4 cm; AD = 19,6 2,9 cm; TD = 29,4 2,69 cm; STF = 2,12 1,03 cm; ED = 24 2,75 cm; BSA = 1,6 0,17 m2. Các giá trị trung bình của liều xạ: DLP = 472,08 152,81 mGy.cm; E= 7,07 2,29 mSv. Có mối tương quan thuận chiều mạnh giữa liều xạ hiệu dụng với BMI, vòng bụng, AD, TD, ED, BSA (p<0,01) và mối tương quan thuận chiều trung bình giữa liều xạ hiệu dụng với STF (p<0,01). Nguy cơ ung thư tăng thêm trung bình khi phơi nhiễm tia X trong CLVT bụng hệ tiết niệu không thuốc cản quang là 0,053 0,032 %. Có mối tương quan thuận chiều trung bình giữa liều hiệu dụng và nguy cơ ung thư tăng thêm với r = 0,46 và p<0,01. Kết luận Liều xạ hiệu dụng có mối tương quan thuận chiều với các chỉ số cơ thể. Nguy cơ ung thư tăng thêm được ghi nhận là 0,053 %, có mối tương quan thuận chiều với liều xạ hiệu dụng. Do đó, việc tối ưu hóa thông số kĩ thuật theo kích thước cơ thể nhằm đảm bảo liều xạ và chỉ định hợp lý CLVT là cần thiết nhằm cân bằng giữa lợi ích chẩn đoán và nguy cơ phơi nhiễm bức xạ.Nguyễn Thị Hoàng ThiHoàng Trung HiếuTrần Hồng Phương Dung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-0563152610.55046/vjrnm.63.1461.2026Đặc điểm hình ảnh và giá trị của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán tắc ruột quai đóng do dải xơ dính
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1581
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh trên cắt lớp vi tính (CLVT) ở bệnh nhân (BN) tắc ruột quai đóng (TRQĐ) do dải xơ dính và xác định giá trị của CLVT trong chẩn đoán và dự báo biến chứng thiếu máu/ hoại tử ruột ở bệnh nhân tắc ruột quai đóng do dải xơ dính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu, thu thập dữ liệu từ 200 bệnh nhân được chẩn tắc ruột và phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 12 năm 2025. Kết quả: Nghiên cứu trên 200 bệnh nhân tắc ruột và được phẫu thuật có 49 BN TRQĐ (chiếm 24,5%) và 151 BN tắc ruột không phải quai đóng (chiếm 75,5%). Trong số 49 BN TRQĐ có 33 bệnh nhân do dải xơ dính (chiếm 67,3%), 12 bệnh nhân do thoát vị nội và ngoại (chiếm 24,5%) và 4 bệnh nhân do xoắn ruột (chiếm 8,2%). Trên CLVT ở 33 BN TRQĐ do dải xơ dính, dấu hiệu dải xơ dính có độ nhạy (12,1%), độ đặc hiệu (100%), giá trị dự báo dương tính (100%), giá trị dự báo âm tính (35,6%). Các dấu hiệu mực nước – hơi, dấu hiệu mỏ chim, dấu hiệu có ít nhất 2 điểm chuyển tiếp có độ nhạy cao lần lượt là 97%; 75,8%; 93,9% nhưng độ đặc hiệu thấp lần lượt là 6,3%; 31,3%; 18,8%. Các dấu hiệu quai ruột hình chữ U/C và dấu hiệu xoáy nước có độ nhạy thấp lần lượt là 9,1% , 12,1% nhưng độ đặc hiệu khá cao đều là 68,8%. Dấu hiệu vành tia có giá trị dự báo dương tính khá cao là 76%. Trên CLVT ở 33 BN TRQĐ do dải xơ dính, dấu hiệu phù/thâm nhiễm mỡ mạc treo và dịch tự do ổ bụng có độ nhạy và giá trị dự báo âm tính đều là 100%, tuy nhiên dấu hiệu phù/ thâm nhiễm mỡ mạc treo có độ đặc hiệu và giá trị dự báo dương tính khá cao lần lượt là 71,4% và 66,7% còn dịch tự do ổ bụng có độ đặc hiệu và giá trí dự báo dương tính thấp lần lượt là 4,8% và 37,5%. Các dấu hiệu thành ruột ngấm thuốc kém, mạch máu mạc treo ngấm thuốc kém, khí thành ruột/ tĩnh mạch cửa có độ đặc hiệu và giá trị dự báo dương tính đều là 100%. Dấu hiệu dày thành ruột ở quai ruột giãn, dấu hiệu thành ruột ngấm thuốc hình bia có độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính và âm tính cao lần lượt là 95,2%, 88,9%, 83,3% ở dấu hiệu dày thành ruột ở quai ruột giãn và 95,2%, 80%, 71,4% ở dấu hiệu thành ruột ngấm thuốc hình bia. Kết luận: Dải xơ dính là nguyên nhân chủ yếu gây ra tắc ruột quai đóng. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào dấu hiệu gián tiếp như hình ảnh mỏ chim hay vành tia để nhận biết, hình ảnh dải xơ dính tuy đặc hiệu nhưng khó nhận biết trên CLVT. Thành ruột ngấm thuốc kém, mạch máu mạc treo ngấm thuốc kém và khí thành ruột/ tĩnh mạch cửa là dấu hiệu chỉ điểm có độ đặc hiệu cho thiếu máu/hoại tử thành ruột.Đoàn Thanh ThuỷBS Lê Tuấn LinhTS Phan Nhân Hiển
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-0563273610.55046/vjrnm.63.1581.2026MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỔN THƯƠNG DI CĂN XƯƠNG TRÊN XẠ HÌNH XƯƠNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1608
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tổn thương trên xạ hình xương và phân tích một số yếu tố liên quan đến tổn thương di căn xương ở bệnh nhân ung thư phổi. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 459 bệnh nhân ung thư phổi được chụp xạ hình xương tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2025 đến tháng 2/2026. Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh được thu thập và phân tích bằng hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 64,3 ± 9,98 tuổi, nam giới chiếm 69,1%. Tỷ lệ phát hiện di căn xương trên xạ hình xương là 34%. Các vị trí tổn thương thường gặp gồm cột sống thắt lưng (26,6%), xương sườn (23,9%), cột sống ngực (17%) và xương chậu (14,6%). Trong phân tích hồi quy logistic đa biến, đau xương và giai đoạn bệnh là các yếu tố liên quan độc lập với tổn thương di căn xương trên xạ hình xương (OR = 15,116; p < 0,001 và OR = 1,372; p = 0,028). Kết luận: Xạ hình xương là phương pháp có giá trị trong phát hiện tổn thương di căn xương ở bệnh nhân ung thư phổi, đặc biệt ở bệnh nhân giai đoạn muộn và có triệu chứng đau xương, góp phần hỗ trợ đánh giá giai đoạn bệnh và định hướng điều trị.Hoàng Đăng HuyPGS Phạm Cẩm PhươngBS Nguyễn Văn TiếnLê Quang HiểnBS Thiều Thị HằngBS Nguyễn Xuân ThanhBS Nguyễn Hà TrangBS Nguyễn Xuân AnBS Dương Ngọc Ánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-0563384610.55046/vjrnm.63.1608.2026KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U GAN DI CĂN TỪ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG BẰNG ĐỐT SÓNG CAO TẦN
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1579
Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh và kết quả sớm của đốt sóng cao tần (RFA) trong điều trị u gan di căn từ ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả trên 25 người bệnh (NB) với 38 u gan di căn, thực hiện từ 01/2024 đến 04/2026. Đáp ứng điều trị được đánh giá bằng cộng hưởng từ hoặc cắt lớp vi tính theo tiêu chuẩn mRECIST. Tuổi trung bình 56.7 ± 12.7; tỷ lệ nam/nữ tương đương. Tổn thương chủ yếu nằm ở hạ phân thùy VI (39.5%), kích thước trung bình 17.8 ± 6.0mm, đa số người bệnh có 01 u (64%). Theo tiêu chuẩn mRECIST, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn tại chỗ đạt 84.2% sau 3 tháng. Nhóm tổn thương ≤20mm có xu hướng đạt tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn cao hơn nhóm >20–30mm (91.7% so với 71.4%, p = 0.17). Các biến chứng chủ yếu nhẹ và thoáng qua, không ghi nhận biến chứng nặng liên quan thủ thuật theo phân loại CIRSE. Kết luận: Đốt sóng cao tần là phương pháp an toàn, ít biến chứng, cho kết quả sớm khả quan trong kiểm soát tại chỗ u gan di căn từ ung thư đại trực tràng. Từ khóa: u gan di căn từ ung thư đại trực tràng, đốt sóng cao tần.Nguyễn Hùng Minh HiếuPGS.TS Nguyễn Thái BìnhTS Phan Nhân Hiển
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-0563475710.55046/vjrnm.63.1579.2026Nghiên cứu các yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng đến tỷ trọng mỡ quanh mạch đo được trên chụp cắt lớp vi tính động mạch vành
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1524
Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật đến tỷ trọng mỡ quanh mạch vành (PACT) đo được trên ảnh chụp cắt lớp vi tính động mạch vành (CCTA). Đối tượng và Phương pháp: Năm mươi bệnh nhân chụp CCTA tại bệnh viện Bạch Mai được đưa vào phân tích. Giá trị PCAT được đo trên các ảnh tái tạo từ nhiều thuật toán tái tọa ảnh khác nhau, bao gồm thuật toán đối chiếu ngược (Filtered Back Projection – FBP), thuật toán tái tạo lặp (Iterative Reconstruction – IR) với các mức độ lặp khác nhau và nhiều loại kernel tái tạo. Sử dụng các kiểm định thống kê để so sánh và đánh giá mỗi liên quan giữa đặc điểm bệnh nhân và các thông số tái tạo lên giá trị PCAT đo được. Kết quả: Giá trị PCAT nằm trong khoảng tỷ trọng đặc trưng của mô mỡ (–190 đến –30 HU), với trung bình –72.7 ± 22.2 HU khi dùng FBP. Không ghi nhận tương quan có ý nghĩa giữa PCAT và tuổi, BMI hoặc nhịp tim (p>0.05). Ngược lại, có sự khác biệt có ý nghĩa về giá trị PCAT đo được giữa các thuật toán tái tạo (FBP so với IR, p=0.011) và các loại kernel (p<0.001), trong khi mức độ lặp của IR không tạo khác biệt đáng kể (p>0.05). Kết luận: PCAT tương đối ổn định theo các đặc điểm bệnh nhân nhưng nhạy cảm với thuật toán tái tạo và mức độ kernel. Là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá trực tiếp các yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng PCAT, kết quả nhấn mạnh sự cần thiết phải chuẩn hóa thông số tái tạo nhằm đảm bảo tỷ trọng mỡ quanh mạch đo được đáng tin cậy để PCAT như một biomarker mới về viêm mạch và nguy cơ tim mạch.Nguyễn Công TiếnLê Minh TrangPGS-TS-BS Trần Anh Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-0563586610.55046/vjrnm.63.1524.2026GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ 3.0 TESLA TRONG THEO DÕI SAU CAN THIỆP ĐẶT STENT ĐỔI HƯỚNG DÒNG CHẢY ĐIỀU TRỊ PHÌNH MẠCH MÁU NÃO.
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1577
Mục Tiêu: Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ 3.0 Tesla trong theo dõi sau can thiệp đặt stent đổi hướng dòng chảy điều trị phình mạch máu não. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 16 bệnh nhân có phình mạch máu não được điều trị bằng stent đổi hướng dòng chảy, được theo dõi bằng cộng hưởng từ 3.0 Tesla (MRI 3T) và chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) tại Trung tâm Chẩn đoán Hình ảnh và Can Thiệp Điện Quang, Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2025 đến tháng 5 năm 2026. Các thông số nghiên cứu tập trung vào đánh giá mức độ tắc túi phình theo thang điểm O'Kelly-Marotta (OKM), phát hiện túi phình tồn dư và hẹp lòng stent. Các phép kiểm định thống kê được sử dụng bao gồm độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác và chỉ số Kappa để đánh giá sự đồng thuận giữa hai phương pháp hình ảnh. Kết quả: Nghiên cứu gồm 16 bệnh nhân với tuổi trung bình 57,2 ± 12,3 tuổi. Phần lớn túi phình nằm tại hệ động mạch cảnh trong (93,8%), chủ yếu ở đoạn C6 theo phân loại Bouthillier. MRI 3T đạt độ nhạy 66,7%, độ đặc hiệu 100%, độ chính xác 93,8% và giá trị dự báo âm tính 92,9% trong phát hiện túi phình tồn dư; hệ số Kappa giữa MRI 3T và DSA là 0,765. Trong đánh giá mức độ tắc túi phình theo thang điểm OKM, MRI 3T cho mức độ tương đồng rất cao với DSA với Kappa trọng số đạt 0,957. Ba chuỗi xung TOF-MRA, Silent MRA và CE-MRA cho hiệu năng chẩn đoán tương đương nhau trong phát hiện túi phình tồn dư. Trong đánh giá hẹp lòng stent, MRI 3T đạt độ đặc hiệu 100%, độ nhạy 66,7% và mức độ phù hợp tốt với DSA (Kappa = 0,765). Kết luận: Cộng hưởng từ 3.0 Tesla là phương pháp theo dõi không xâm lấn có giá trị cao sau điều trị phình động mạch não bằng stent chuyển dòng với độ chính xác và độ đặc hiệu cao, có tiềm năng thay thế DSA trong theo dõi định kỳ ở nhiều trường hợp ổn định, góp phần giảm nguy cơ biến chứng và gánh nặng chi phí liên quan đến các thăm khám xâm lấn. Tuy nhiên, DSA vẫn giữ vai trò tiêu chuẩn tham chiếu trong các trường hợp nghi ngờ tồn lưu nhỏ hoặc cần đánh giá chi tiết lòng stent và các nhánh bên liên quan.Việt LinhPGS. TS Nguyễn Thái BìnhTS Phan Nhân HiểnBS Nguyễn Quang TrungBS Nguyễn Phương Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-0563677710.55046/vjrnm.63.1577.2026Kết quả sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CLVT trong chẩn đoán u trung thất trước
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1575
Mục tiêu: Đánh giá giá trị chẩn đoán và tính an toàn của sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn cắt lớp vi tính (CLVT) trong chẩn đoán các u trung thất trước. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang , hồi cứu thu thập dữ liệu từ 21 lần sinh thiết của 20 bệnh nhân (có 01 bệnh nhân được sinh thiết 02 lần) có tổn thương trung thất trước được sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CLVT tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 08/2023 đến tháng 02/2026. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh CLVT, đặc điểm kỹ thuật sinh thiết, kết quả mô bệnh học và các biến chứng liên quan được thu thập và phân tích. Kết quả sinh thiết được đối chiếu với chẩn đoán cuối cùng dựa trên kết quả sau phẫu thuật hoặc theo dõi lâm sàng và hình ảnh học ít nhất 3 tháng. Kết quả: Nghiên cứu trên 21 lần sinh thiết của 20 bệnh nhân, tuổi trung bình 54,15 ± 20,33 tuổi. Tổn thương chủ yếu nằm ở trung thất trước (85%), phần lớn có kích thước từ 5–10 cm (70%). Đường tiếp cận cạnh ức được sử dụng chủ yếu (90%) với chiều dài đường đi kim trung bình 3,1 cm. Tỷ lệ thành công kỹ thuật đạt 100%. Tỷ lệ có chẩn đoán đạt 86%, trong đó 75% trường hợp có chẩn đoán đặc hiệu mô học. Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính và độ chính xác lần lượt là 90%, 100%, 100%, 33,3% và 86%. U tuyến ức là nhóm bệnh lý thường gặp nhất với độ nhạy chẩn đoán mô học đạt 86%. Tỷ lệ biến chứng chung là 14%, bao gồm tràn khí màng phổi, tràn khí màng phổi, chảy máu trung thất và chảy máu nhu mô phổi. Tất cả các biến chứng đều ở mức độ nhẹ (độ A theo phân loại hiệp hội Điện quang Can thiệp) không cần can thiệp điều trị. Kết luận: Sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CLVT là phương pháp ít xâm lấn, an toàn và có giá trị chẩn đoán cao trong chẩn đoán u trung thất trước, đặc biệt có độ nhạy cao trong chẩn đoán u tuyến ức, góp phần giảm nhu cầu phẫu thuật chẩn đoán xâm lấn.Nguyễn Thị Huyền TrangBS Nguyễn Thái BìnhBS Phan Nhân Hiển
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-0563788710.55046/vjrnm.63.1575.2026HÌNH ẢNH CT THÔNG NỐI CỬA CHỦ BẨM SINH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2: BÁO CÁO LOẠT CA LÂM SÀNG
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1476
Đặt vấn đề: Thông nối cửa chủ bẩm sinh là những bất thường hiếm gặp về mạch máu trong đó tĩnh mạch cửa đổ vào tĩnh mạch hệ thống. Thường liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể. Biểu hiện lâm sàng đa dạng. Trong một số trường hợp, thông nối cửa chủ bẩm sinh có thể không có triệu chứng, gây khó khăn cho việc chẩn đoán. Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quan trọng khi nghi ngờ chẩn đoán, đánh giá mức độ thông nối cửa chủ, xác định dị tật liên quan, từ đó đưa ra phương pháp xử trí thích hợp nhất. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) và các triệu chứng/ bất thường đi kèm của các trường hợp thông nối cửa chủ bẩm sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo hồi cứu 9 trường hợp thông nối cửa chủ bẩm sinh được chẩn đoán xác định trên CLVT. Kết quả: Từ tháng 04 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022 có 9 trường hợp thông nối cửa chủ bẩm sinh được chẩn đoán xác định tại bệnh viện Nhi Đồng 2, bao gồm 7 bệnh nhân (chiếm 77,8%) có thông nối cửa chủ trong gan (bao gồm 4 ca type 2, 1ca type III, 2 ca type V theo phân loại Park) và 2 bệnh nhân (chiếm 22,2%) có thông nối cửa chủ ngoài gan (đều là type Ib theo phân loại Abernethy). Thông nối cửa chủ trong gan type loại 2 thường gặp với tỉ lệ 42,9%. Tuổi trung bình là 19,6 ± 26,8 tháng (sớm nhất là 5 ngày tuổi, muộn nhất là 58 tháng tuổi. Thường phát hiện khi khảo sát các bất thường đi kèm. 4 bệnh nhân (44,4%) có dị tật bẩm sinh, trong đó bệnh tim bẩm sinh và u máu là phổ biến nhất đều chiếm tỉ lệ 22,2%. Kết luận: Thông nối cửa chủ có biểu hiện đa dạng, có thể không triệu chứng hoặc biểu hiện như chứng ứ mật ở trẻ sơ sinh hoặc phổi hợp các dị tật bẩm sinh. Đánh giá hình ảnh học có vai trò quan trọng hàng đầu để chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị, do đó tránh được những hậu quả nặng nề nhất của dị tật này.TS.BSCKII NGHIÊM PHƯƠNG THẢOBsCKII Huỳnh Văn ThoBS Hồ Phi DuyBs Trần Quốc ĐạtBS Trần Công BìnhBS Phan Thanh Chí Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-0563889610.55046/vjrnm.63.1476.2026KHI TỔN THƯƠNG DẠNG NANG KHÔNG PHẢI LÀ NANG: SARCOMA PHÔI KHÔNG BIỆT HÓA CỦA GAN
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1582
Sarcoma phôi không biệt hóa của gan (Undifferentiated Embryonal Sarcoma of the Liver – UESL) là một khối u trung mô ác tính hiếm gặp, chủ yếu gặp ở trẻ em và rất hiếm ở người trưởng thành. Do các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và mô bệnh học không đặc hiệu, UESL rất dễ bị chẩn đoán nhầm với các tổn thương lành tính hoặc các khối u khác của gan, dẫn đến trì hoãn điều trị. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 33 tuổi nhập viện vì đau bụng kéo dài. Trên siêu âm và chụp cộng hưởng từ cho thấy một tổn thương dạng nang lớn ở gan, ban đầu được chẩn đoán là tổn thương sán lá gan và điều trị thuốc kháng ký sinh trùng 1 tháng kết hợp dẫn lưu nang gan. Tuy nhiên, tổn thương hầu như không thay đổi trên hình ảnh kiểm tra sau điều trị. Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật cắt gan trung tâm, kết quả mô bệnh học sau mổ ban đầu hướng đến sarcoma màng hoạt dịch. Sau phẫu thuật, bệnh nhân không điều trị bổ sung mà tự sử dụng thuốc nam tại nhà. Năm tháng sau, bệnh nhân tái nhập viện với triệu chứng đau bụng và khó thở nhiều, trên các phương tiện chẩn đoán hình ảnh ghi nhận tổn thương tái phát tại gan và di căn phúc mạc. Hội chẩn Hội đồng đa chuyên khoa được đề nghị xét nghiệm hóa mô miễn dịch bổ sung trên mẫu bệnh phẩm phẫu thuật trước đó, kết quả chẩn đoán xác định là tổn thương UESL. Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân nhắc UESL trong chẩn đoán phân biệt các tổn thương gan không điển hình, đặc biệt khi không đáp ứng điều trị thông thường, và vai trò thiết yếu của tiếp cận đa chuyên khoa trong chẩn đoán và điều trị UESL.Trần Thị Hồng NhungHuỳnh Ngọc Phương Thanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-05639710410.55046/vjrnm.63.1582.2026VAI TRÒ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ THÔNG NỐI CỬA - CHỦ TRONG GAN: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1366
Thông nối cửa - chủ trong gan (Intrahepatic Portosystemic Venous Shunt - IPSVS) là một bất thường mạch máu hiếm gặp, được định nghĩa là sự thông thương bất thường giữa tĩnh mạch cửa trong gan và hệ thống tĩnh mạch chủ hoặc tĩnh mạch gan. Mặc dù thường không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ, IPSVS có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như bệnh não gan. Can thiệp nút mạch đã được chứng minh là một phương pháp điều trị hiệu quả và ít xâm lấn. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 77 tuổi được chẩn đoán thông nối cửa - chủ trong gan và được điều trị thành công bằng can thiệp nút mạch qua đường xuyên gan sử dụng dù kim loại. Ca bệnh này minh họa vai trò quan trọng của chẩn đoán hình ảnh trong việc xác định và phân loại shunt, cũng như hiệu quả của nút mạch trong việc cải thiện tình trạng bệnh.Lê Hoàng ĐạtBS. CKII Trần Đăng KhoaPGS Lê Thanh DũngTS Thân Văn SỹBS Trần Thị Thanh Thanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-056310511110.55046/vjrnm.63.1366.2026THẤT PHẢI HAI ĐƯỜNG RA Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH: MỘT CA BỆNH HIẾM GẶP
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1545
1 Đặt vấn đề: Thất phải hai đường ra là một dị tật bẩm sinh hiếm gặp, thường được phát hiện sớm ở trẻ em. Chúng tôi báo cáo ca lâm sàng DORV tồn tại đến tuổi trưởng thành mà chưa qua sửa chữa. 2 Giới thiệu ca bệnh: Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân 30 tuổi nhập viện vì ho ra máu. Hình ảnh học ghi nhận DORV thể thông liên thất dưới van động mạch phổi với lỗ thông liên thất lớn (~22 mm), tăng áp động mạch phổi nặng và bệnh phổi phối hợp. 3 Kết luận: Ca bệnh cho thấy sự tương tác phức tạp giữa dị tật tim bẩm sinh, tăng áp động mạch phổi mạn tính và bệnh phổi nền. Dù sống đến tuổi trưởng thành, bệnh nhân đã xuất hiện biến chứng nặng, nhấn mạnh vai trò của đánh giá tim–phổi toàn diện và điều trị đa chuyên khoa.Nguyễn Thị ThươngTS Hoàng Văn Lương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2026-07-052026-07-056311211710.55046/vjrnm.63.1545.2026