Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm
<p>Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam thuộc Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam là diễn đàn trao đổi thông tin khoa học và hoạt động của chuyên ngành Điện quang và Y học hạt nhân trên cả nước. Tạp chí xuất bản 4 số tiếng Việt và 1 số tiếng Anh/năm, đăng tải các công trình nghiên cứu khoa học, bài tổng quan, bài ca lâm sàng hay cũng như các thông tin hoạt động của Hội... tạo điều kiện trao đổi khoa học, kinh nghiệm giữa hội viên Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam và các Hội chuyên ngành khác. Ban biên tập rất mong nhận được sự cộng tác viết bài của các tác giả cho Tạp chí.</p>Hội Điện quang & Y học hạt nhân Việt Namvi-VNTạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam1859-4832KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NÚT MẠCH HÓA DẦU SIÊU CHỌN LỌC UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1487
Mục tiêu: đánh giá hiệu quả can thiệp, tính an toàn và tái phát tại chỗ phương pháp nút mạch hóa dầu siêu chọn lọc (ultraselective convention transarterial chemoembolization – ultraselective cTACE) trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG). Đối tượng và phương pháp: hồi cứu các bệnh nhân UTBMTBG giai đoạn A-B theo Barcelona Clinic Liver Cancer (BCLC) được điều trị bằng phương pháp nút mạch hóa dầu siêu chọn lọc tại Trung tâm điện quang bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2023. Kỹ thuật cTACE được thực hiện với mức độ tiếp cận siêu chọn lọc, bơm hỗn dịch lipiodol và hóa chất chậm cho đến khi hiện hình tĩnh mạch cửa quanh u. Bệnh nhân được đánh giá mức độ hiện hình tĩnh mạch cửa trong can thiệp, theo dõi hội chứng sau nút mạch và các biến chứng nặng. Hiệu quả điều trị được đánh giá sau 1 tháng. Tỷ lệ tái phát tại chỗ được đánh giá ở các thời điểm 6 tháng và 12 tháng. Kết quả: 35 khối u trên 30 bệnh nhân với độ tuổi trung bình là 58 ± 9,3 tuổi; đường kính trung bình khối u là 26,5 ± 8,4 mm. Kết quả can thiệp có 6 khối u có hiện hình tĩnh mạch cửa độ 0, 11 khối độ 1 và 18 khối độ 2. Không có biến chứng nặng, các bệnh nhân chỉ gặp hội chứng sau nút mạch mức độ nhẹ đến vừa. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn theo Modified Response Evaluation Criteria in Solid Tumors (mRECIST) đạt 97,1% (34/35). Tỉ lệ tái phát khối u sau 6 và 12 tháng lần lượt là 11,8% (4/34) và 23,5% (8/34). Nhóm khối u đạt hiện hình tĩnh mạch cửa độ 2 có tỉ lệ tái phát thấp nhất (0% sau 6 tháng; 5,6% sau 12 tháng), thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm độ 0 (60% sau 6 tháng; 80% sau 12 tháng, p<0,01) và không có ý nghĩa thống kê so với nhóm độ 1 (9,1% sau 6 tháng; 27,3% sau 12 tháng). Kết luận: Phương pháp nút mạch hóa dầu siêu chọn lọc cho HCC giai đoạn sớm/trung gian đạt hiệu quả kiểm soát u tại chỗ và tính an toàn cao. Kỹ thuật này hiệu quả gần như một phương pháp điều trị triệt để cho HCC nhỏ ở những bệnh nhân không thể phẫu thuật hoặc RFA.Nguyễn Đức KhảiTS Lê Văn KhảngBS Trịnh Hà ChâuPGS Vũ Đăng LưuGS.TS Phạm Minh ThôngLê Đức Thọ Lê Đức ThọBS Đỗ Đăng TânBS Trần Đức HuyBS Đặng Ngọc HiếuBS Phạm Quang SơnBS Lê Doãn Trí
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-056141110.55046/vjrnm.61.1487.2025So sánh đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính của ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô tế bào vảy phổi tại Bệnh viện Bạch Mai
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1457
Mục tiêu: So sánh đặc điểm hình ảnh CLVT giữa ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô tế bào vảy phổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu, thu thập dữ liệu từ 407 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến (UTBMT) và ung thư biểu mô tế bào vảy phổi (UTBMV), đã chụp CLVT trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 7 năm 2024 tại Bệnh viện Bạch Mai. Các đặc điểm hình ảnh gồm kích thước u, đậm độ, đường viền, vôi hoá, tạo hang, vị trí, liên quan cây phế quản, xâm lấn cấu trúc lân cận, cùng đặc điểm dịch tễ học tuổi, giới được phân tích. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: UTBMT thường phân bố ngoại vi (43,8%). UTBMV thường khu trú trung tâm (43,2%), kích thước trung bình lớn hơn (48,5mm so với 39,7mm), có tỉ lệ xâm lấn cây phế quản (15,9%), tỷ lệ nam giới (86,4%) cao hơn. Khác biệt không có ý nghĩa thống kê về vị trí phân thùy phổi, đường viền, vôi hóa, tạo hang giữa hai nhóm. Kết luận: CLVT mô tả một số đặc điểm giúp phân biệt hai nhóm mô bệnh học, hỗ trợ định hướng chẩn đoán, xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp.Lê Thị Thanh HạnhTS Nguyễn Quang AnhThS Nguyễn Thị Thu ThảoPGS Vũ Đăng Lưu
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561122010.55046/vjrnm.61.1457.2025VAI TRÒ TIÊN LƯỢNG CỦA TỈ SỐ SUVmax KHỐI U/HẠCH TRUNG THẤT TRÊN PET/CT TRONG ĐÁNH GIÁ DI CĂN HẠCH Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1432
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá giá trị tiên lượng của tỉ số hấp thu FDG tối đa giữa khối u nguyên phát và hạch trung thất (T/LN SUVmax) so với SUVmax hạch đơn thuần trong việc dự đoán di căn hạch trung thất ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 74 bệnh nhân NSCLC đã được chụp PET/CT toàn thân trước phẫu thuật và tiến hành cắt u kèm nạo vét hạch trung thất. Tổng cộng 311 hạch lympho trung thất được ghi nhận trên PET/CT, trong đó 178 hạch có tăng hấp thu FDG. Với mỗi hạch nghi ngờ, SUVmax của hạch và khối u nguyên phát được ghi nhận để tính tỉ số T/LN SUVmax. Phân tích ROC được sử dụng để so sánh giá trị chẩn đoán của T/LN SUVmax và SUVmax hạch đơn thuần, nhằm xác định ngưỡng cut-off tối ưu. Kết quả: Trong 178 hạch tăng hấp thu FDG, có 32 hạch (17,98%) được xác định là di căn qua mô bệnh học. Trung vị SUVmax của nhóm hạch di căn là 6,14, cao hơn đáng kể so với nhóm không di căn (3,14; p < 0,01). Nhóm hạch di căn cũng cho thấy mối tương quan chặt chẽ hơn giữa SUVmax hạch và u nguyên phát (rs = 0,69; p < 0,001) so với nhóm không di căn (rs = 0,27; p = 0,001). Tỉ số T/LN SUVmax thể hiện hiệu quả phân biệt vượt trội, với ngưỡng cut-off tối ưu là 2,45, đạt độ nhạy 86,3%, độ đặc hiệu 93,7%, và diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,931 (p < 0,001). Trong khi đó, SUVmax hạch đơn thuần với ngưỡng cut-off 4,77 đạt độ nhạy 93,8% nhưng độ đặc hiệu chỉ 76,7%, AUC = 0,877 (p < 0,001). Kết luận: Tỉ số T/LN SUVmax có độ chính xác cao hơn rõ rệt so với SUVmax hạch đơn thuần trong dự đoán di căn hạch trung thất ở bệnh nhân NSCLC. Ngưỡng cut-off 2,45 cho thấy khả năng dự đoán hạch di căn với độ đặc hiệu cao trong khi vẫn giữ được độ nhạy tốt. T/LN SUVmax là một chỉ số đáng tin cậy, nên được cân nhắc áp dụng trong đánh giá giai đoạn hạch bằng PET/CT. Từ khoá: SUVmax u/hạch, PET/CT, ung thư phổi không tế bào nhỏNguyễn Văn ThắngBS Đặng Duy CườngBS Nguyễn Văn Khải
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561212810.55046/vjrnm.61.1432.2025Mối liên quan giữa đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính và tình trạng đột biến gen EGFR ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1430
Mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính và tình trạng đột biến gen EGFR ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên 98 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là ung thư phổi không tế bào nhỏ trong thời gian từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 5 năm 2025 tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, được chụp CLVT chẩn đoán và được làm xét nghiệm giải trình tự gen thế hệ mới. Tổng số 98 bệnh nhân được chia thành các nhóm theo tình trạng đột biến gen EGFR: bệnh nhân có đột biến gen EGFR là 35 trường hợp và không có đột biến là 63 trường hợp. Một số đặc điểm lâm sàng và hình ảnh CLVT phổi của hai nhóm được ghi nhận và so sánh. Phân tích hồi quy đơn biến được thực hiện để xác định các yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến đột biến gen EGFR. Kết quả: Trong tổng số 98 bệnh nhân, 35 trường hợp (35.7%) có đột biến EGFR. Phân tích hồi quy đơn biến chỉ ra rằng, đặc điểm giới tính nữ (OR 3.3), các đặc điểm CLVT phổi: dấu hiệu viền kính mờ (OR 5.186), dấu hiệu co rút màng phổi (OR 2.779) và dấu hiệu tràn dịch màng phổi (OR 4.156) là các yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến đột biến gen EGFR. Kết luận: Giới nữ, hình ảnh CLVT phổi có dấu hiệu viền kính mờ, co rút màng phổi và tràn dịch màng phổi có khả năng dự báo đột biến EGFR, từ đó có thể giúp xây dựng kế hoạch điều trị hiệu quả với liệu pháp đích.Phạm Minh ThưTS Nguyễn Trường GiangPhạm Việt HàHoàng Minh Tú
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561293510.55046/vjrnm.61.1430.2025Vai trò của Xquang cắt lớp vi tính hai mức năng lượng trong chẩn đoán sỏi hệ niệu
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1419
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định khả năng phát hiện sỏi hệ niệu của phim không thuốc ảo (VNE) được tái tạo từ X-quang cắt lớp vi tính hai mức năng lượng (DECT) khi đối chiếu với phim không thuốc thực. Đánh giá giá trị của DECT trong xác định thành phần hóa học của sỏi hệ niệu trong cơ thể. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ tháng 5/2022 đến hết tháng 10/2023 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương- TP Hồ Chí Minh. 197 bệnh nhân có chẩn đoán sau mổ là sỏi niệu, trong đó có 31 bệnh nhân lấy được sỏi để phân tích quan phổ hồng ngoại, được khảo sát đường niệu trước mổ ở chế độ DECT trên 3 thì (thì không thuốc, thì nhu mô, thì bài tiết). Hình ảnh phim không thuốc thật được sử dụng làm tiêu chuẩn đối chiếu để đánh giá khả năng phát hiện sỏi hệ niệu của phim không thuốc ảo tái tạo từ thì nhu mô và thì bài tiết. Thành phần hóa học của sỏi được xác định qua hình tái tạo và phần mềm của máy, sau đó so sánh với kết quả quang phổ hồng ngoại. Kết quả: VNE tái tạo từ thì nhu mô có độ nhạy, độ đặc hiệu trong phát hiện sỏi hệ niệu cản quang là 95,4% và100%. VNE tái tạo từ thì bài tiết có độ nhạy, độ đặc hiệu là 83,2% và 94,6%. Kích thước sỏi đo được trên phim không thuốc thực thường lớn hơn kích thước sỏi đo được trên phim không thuốc ảo tái tạo từ thì nhu mô và từ thì bài tiết. Sỏi có kích thước < 5mm có thể được phát hiện với tỷ lệ không cao, độ nhạy và độ chính xác là 74,2% đối với VNE tái tạo từ thì nhu mô, độ nhạy và độ chính xác là 31,4% đối với VNE tái tạo từ thì bài tiết. Về vị trí, sỏi ở đài bể thận được phát hiện thấp nhất so với các vị trí khác, độ nhạy là 93, 05% đối với VNE tái tạo từ thì nhu mô và 77,7% với VNE tái tạo từ thì bài tiết. Về thành phần hóa học của sỏi, độ chính xác của DECT trong phát hiện thành phần chính của sỏi là 74,1%, mức độ đồng thuận giữa DECT và quang phổ hồng ngoại là 0,72.Chỉ số Zeff giúp phát hiện tốt sỏi Canxi Oxalate với độ chính xác 83,3%. Giá trị điểm cắt chỉ số HU là 1.32 giúp phân biệt sỏi Struvite và sỏi Canxi Oxalate với độ nhạy 95%, độ đặc hiệu 72% Kết luận: VNE tái tạo từ DECT có khả năng phát hiện tốt các sỏi hệ niệu kích thước lớn >5mm, tuy nhiên VNE tái tạo từ thì nhu mô có khả năng phát hiện sỏi cao hơn so với VNE tái tạo từ thì bài tiết. Về thành phần hóa học của sỏi, DECT có khả năng phát hiện tốt thành phần chính của sỏi, nhất là với sỏi Canxi oxalate. DECT có thể phân biệt sỏi Canxi oxalate và Struvite. Từ khóa: phim không thuốc ảo, chụp cắt lớp vi tính hai mức năng lượng, sỏi hệ niệu, thì nhu mô, thì bài tiết, thành phần sỏi.LÊ BÁ HỒNG PHONGBS Lê Công ĐứcBS Đỗ Hải Thanh AnhBS Nguyễn Đại Hùng Linh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561364310.55046/vjrnm.61.1419.2025HÌNH ẢNH CỘNG HƯỞNG TỪ CHÙM CA BỆNH U NHÚ NỘI ỐNG ĐƯỜNG MẬT
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1405
TÓM TẮT: U nhú nội ống đường mật (IPNB) Đặt vấn đề: U nhú nội ống đường mật (IPNB) được định nghĩa là u nhú hay nhung mao bao phủ các mạch máu trong đường mật. Mô tả ca bệnh: Chúng tôi xin báo cáo 05 trường hợp u nhú nội ống đường mật được chụp cộng hưởng từ tại Bệnh viên Bạch Mai. Các ca bệnh được trình bày thông tin về lâm sàng, xét nghiệm men gan, đặc điểm chi tiết về hình ảnh cộng hưởng từ gan mật và kết quả mô bệnh học sau sinh thiết hoặc sau mổ. Kết Luận: Chùm ca bệnh này củng cố thêm nhận định u nhú nội ống đường mật là một bệnh lý có thể chẩn đoán qua MRI, với những đặc trưng hình ảnh điển hình và phân loại hình thái giúp định hướng chẩn đoán sâu hơn. Việc kết hợp định hướng hình ảnh học với định hướng can thiệp có vai trò thiết yếu trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân IPNB. Từ khóa: U nhú nội ống đường mật, IPNB, MRI gan mật.Bùi Thị Mỹ LinhTS Lê Văn KhảngBSCKII Trịnh Hà ChâuThs Nguyễn Thị KhơiThS Nguyễn Thị Thu ThảoThS Đỗ Đăng TânThS Lê Doãn TríTS Phạm Văn TuyếnPGS TS Vũ Đăng Lưu
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561445110.55046/vjrnm.61.1405.2025ÁP XE GAN NGUYÊN PHÁT DO KLEBSIELLA PNEUMONIAE TỪ GÓC NHÌN CỦA BÁC SĨ ĐIỆN QUANG: BÁO CÁO 3 TRƯỜNG HỢP
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1237
Tóm tắt Đặt vấn đề: Áp xe gan do vi khuẩn Klebsiella pneumoniae (K. pneumoniae) ngày càng gặp nhiều ở các quốc gia châu Á. Áp xe có thể gây nhiễm khuẩn lan tràn sang các cơ quan khác nhất là đối với các trường hợp chẩn đoán và điều trị muộn, đem lại tiên lượng xấu cho bệnh nhân. Chúng tôi báo cáo 3 trường hợp áp xe gan nguyên phát do K. pneumoniae và tổng quan y văn một số dấu hiệu hình ảnh đặc hiệu gợi ý chẩn đoán áp xe gan do K. pneumoniae. Ca lâm sàng: Ba ca lâm sàng ở bệnh nhân nam 44 tuổi, nam 50 tuổi và nữ 71 tuổi. Lý do vào viện đều do sốt cao kéo dài 4-5 ngày trước đó. Các xét nghiệm thấy tăng men gan, bilirubin, số lượng bạch cầu và protein phản ứng C. Hình ảnh tổn thương áp xe gan đơn ổ, kích thước lớn, bờ không đều, vỏ mỏng, không có dấu hiệu “bia bắn đôi”. Cả 3 trường hợp áp xe đều có đặc điểm hình ảnh "giả tổn thương đặc", dịch áp xe hoại tử không đồng nhất, nhiều vách mỏng bên trong tạo hình ảnh “turquoise sign”. Các đặc điểm này gợi ý áp xe gan do vi khuẩn sinh mủ hướng đến K. pneumoniae. Nhu mô gan còn lại không có bệnh lý gan mật. Các kết quả cấy máu và cấy dịch áp xe xác định duy nhất vi khuẩn K. pneumoniae là tác nhân gây bệnh. Không phát hiện tổn thương nhiễm khuẩn xa ở các cơ quan khác. Kết luận: Nắm được đặc điểm hình ảnh gợi ý nhiều đến áp xe gan K. pneumoniae: áp xe đơn ổ, vỏ mỏng không đều, nhiều vách, hình ảnh "giả tổn thương đặc" kèm dấu hiệu “turquoise”, không có tiền sử bệnh lý gan mật, có thể giúp các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đưa ra chẩn đoán sớm, góp phần mang lại hiệu quả điều trị tốt và giảm tỷ lệ các tổn thương nhiễm khuẩn xa cho bệnh nhân.Nguyễn Thị Thuỳ LinhPGS.TS Bùi Văn GiangNguyễn Văn PhấnVũ Huy HoàngLê Hồng Chiến
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561526010.55046/vjrnm.61.1237.2025BÁO CÁO CA LÂM SÀNG TÚI THỪATHỰC QUẢN ZENKER Ở BỆNH NHÂN NỮ 63 TUỔI
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1225
Giới thiệu: Túi thừa Zenker là một bệnh lý hiếm gặp của hạ họng – thực quản, thường gặp ở nam giới lớn tuổi, với tần suất 0,01–0,11% [1]. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào X-quang thực quản có barit và nội soi, trong khi vai trò của siêu âm ít khi được đề cập. Ca bệnh: Chúng tôi báo cáo một bệnh nhân nữ 63 tuổi vào viện vì nuốt vướng kéo dài 6 tháng. Siêu âm cổ ban đầu phát hiện cấu trúc dạng túi chứa dịch – hơi, thành có cấu trúc lớp của đường tiêu hóa, liên quan mặt sau thùy trái tuyến giáp. Bệnh nhân được làm thêm X-quang thực quản có barit, CT vùng cổ có cản quang và nội soi, kết quả xác định chẩn đoán túi thừa Zenker. Bệnh nhân được phẫu thuật nội soi, giải phẫu bệnh xác nhận chẩn đoán. Kết luận: Trường hợp này nhấn mạnh vai trò bổ trợ của siêu âm cổ trong phát hiện túi thừa Zenker – một nguyên nhân hiếm gặp nhưng quan trọng của triệu chứng khó nuốt ở người lớn tuổi.Lê Thị Hồng VũTS Trần Như TúKTV Dương Anh NhậtKTV Huỳnh Trần Như Sơn
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561616510.55046/vjrnm.61.1225.2025HỘI CHỨNG BUDD-CHIARI - VAI TRÒ CỦA HÌNH ẢNH HỌC TỪ CHẨN ĐOÁN ĐẾN ĐIỀU TRỊ
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1488
Hội chứng Budd-Chiari là bất thường hiếm gặp, gây ra bởi sự tắc nghẽn đường thoát của tĩnh mạch gan. Vị trí tắc nghẽn có thể tại các tiểu tĩnh mạch đến chỗ đổ của tĩnh mạch chủ dưới (TMCD) vào nhĩ phải. Nguyên nhân gây bệnh rất đa dạng và phân bố khác nhau theo vùng địa lý. Tuỳ theo nguyên nhân mà diễn tiến, tiên lượng bệnh và lựa chọn điều trị cũng sẽ khác nhau. Vì vậy chúng tôi xin giới thiệu 3 trường hợp lâm sàng hội chứng Budd-Chiari gây ra bởi 3 nguyên nhân khác nhau nhằm minh hoạ cho sự đa dạng về biểu hiện của hội chứng này cũng như vai trò của hình ảnh học trong chẩn đoán bệnh.Trần Lê Minh ChâuPGS Võ Tấn ĐứcBS Nguyễn Quang Thái DươngBS Phan Công Chiến
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561667210.55046/vjrnm.61.1488.2025U MỠ DƯỚI NIÊM RUỘT NON LAN TỎA Ở BỆNH NHÂN NỮ TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA: NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP HIẾM GẶP VÀ HỒI CỨU Y VĂN
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1395
U mỡ dưới niêm mạc ruột lan tỏa là một tình trạng bệnh lý hiếm gặp. Nguyên nhân gây bệnh hiện vẫn chưa được biết chính xác, tuy nhiên có nhiều báo cáo trường hợp trên y văn có sự liên quan tới đột biến gen. Bệnh sinh đặc trưng bởi sự lắng đọng lan tỏa của mô mỡ ở lớp dưới niêm của ruột. Bệnh thường không có triệu chứng và thường được phát hiện tình cờ, tuy nhiên đôi khi có thể gây ra các triệu chứng như đau bụng, thay đổi thói quen đại tiện, hoặc các biến chứng nghiêm trọng như tắc ruột, lồng ruột, xuất huyết tiêu hóa hoặc thủng ruột. Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân u mỡ ruột non lan tỏa được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Bà Rịa.Chu Nguyễn Nhật MinhLý Bảo HiếuBS Nguyễn Quốc Tiến
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561737810.55046/vjrnm.61.1395.2025U MÔ BÀO LANGERHANS TẠI CỘT SỐNG: BÁO CÁO HAI TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1483
Bệnh mô bào Langerhans (Langerhans Cell Histiocytosis – LCH) là một bệnh lý hiếm gặp, đặc trưng bởi sự tăng sinh bất thường của các tế bào tương tự tế bào Langerhans, có thể gây tổn thương đa cơ quan. Hệ thống xương là vị trí thường bị ảnh hưởng nhất, chiếm khoảng 60–80% trường hợp, trong đó tổn thương cột sống gặp ở 6,5–25% và có nguy cơ gây ra biến chứng thần kinh nghiêm trọng. Chẩn đoán hình ảnh giữ vai trò quan trọng trong phát hiện và đánh giá đặc điểm tổn thương, với các dấu hiệu đặc trưng như “đốt sống phẳng”, tổn thương tiêu xương kèm hoặc không kèm khối mô mềm, và thay đổi tín hiệu trên cộng hưởng từ. Tuy nhiên, do có sự tương đồng về hình ảnh với một số bệnh lý nhiễm trùng hoặc ác tính, mô bệnh học vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định.Nguyễn Thị Kim HuệTiến sĩ Đàm Thủy TrangTiến sĩ Phạm Mạnh CườngPhó Giáo sư Vũ Đăng LưuTiến sĩ Nguyễn Quang Anh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561798410.55046/vjrnm.61.1483.2025KỸ THUẬT ZERO-TE TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ: NGUYÊN LÝ VÀ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG
https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1478
Zero echo-time (ZTE) MRI là một kỹ thuật hình ảnh mới sử dụng các phép đọc cực nhanh để thu tín hiệu từ các mô T2 ngắn. Các lợi thế bổ sung của chuỗi xung bao gồm thời gian chụp nhanh, quét im lặng và khả năng chống ảnh giả. Một ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ này là chụp vỏ xương mà không sử dụng bức xạ ion hóa, do đó có thể là một giải pháp thay thế khả thi cho CT để sàng lọc nhanh và MRI "một cửa". ZTE ngày càng được sử dụng nhiều trong chụp ảnh cơ xương khớp, các ứng dụng chụp ảnh thần kinh. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét vật lý hình ảnh của ZTE bao gồm các tùy chọn chuỗi xung, các hạn chế thực tế và tái tạo hình ảnh., tối ưu hóa hình ảnh bao gồm thu thập, xử lý, phân đoạn, tạo CT tổng hợp và khắc phục ảnh giả. Chúng tôi cũng giới thiệu các ứng dụng lâm sàng của ZTE ví dụ như hình ảnh liên quan dị tật, chấn thương, khối u và các thủ thuật can thiệp,…Nguyễn Hoàng LâmCN Lê Thanh PhongBSCKII Nguyễn Huỳnh Nhật TuấnPGS. TS. Lê Văn Phước
Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam
2025-12-052025-12-0561859110.55046/vjrnm.61.1478.2025