Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm <p>Tạp ch&iacute; Điện quang &amp; Y học hạt nh&acirc;n Việt Nam thuộc Hội Điện quang v&agrave; Y học hạt nh&acirc;n Việt Nam l&agrave; diễn đ&agrave;n trao đổi th&ocirc;ng tin khoa học v&agrave; hoạt động của chuy&ecirc;n ng&agrave;nh Điện quang v&agrave; Y học hạt nh&acirc;n tr&ecirc;n cả nước. Tạp ch&iacute; xuất bản 4 số tiếng Việt v&agrave; 1 số tiếng Anh/năm, đăng tải c&aacute;c c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu khoa học, b&agrave;i tổng quan, b&agrave;i ca l&acirc;m s&agrave;ng hay cũng như c&aacute;c th&ocirc;ng tin hoạt động của Hội... tạo điều kiện trao đổi khoa học, kinh nghiệm giữa hội vi&ecirc;n Hội Điện quang v&agrave; Y học hạt nh&acirc;n Việt Nam v&agrave; c&aacute;c Hội chuy&ecirc;n ng&agrave;nh kh&aacute;c. Ban bi&ecirc;n tập rất mong nhận được sự cộng t&aacute;c viết b&agrave;i của c&aacute;c t&aacute;c giả cho Tạp ch&iacute;.</p> Hội Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam vi-VN Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 1859-4832 ĐỒNG THUẬN CHUYÊN GIA VỀ ĐIỀU TRỊ NHÂN TUYẾN GIÁP BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỐT SÓNG CAO TẦN (RFA) https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1537 Background: Radiofrequency ablation (RFA) has emerged as a minimally invasive treatment option for benign thyroid nodules and selected malignant thyroid diseases. While international guidelines—particularly from the Korean Society of Thyroid Radiology (KSThR)—have provided comprehensive recommendations, a nationally adapted consensus reflecting local clinical practice and resource availability remains necessary. Objective: To develop a Vietnamese expert consensus on the indications, pre-procedural evaluation, technical considerations, post-procedural assessment, and safety of ultrasound-guided radiofrequency ablation for benign thyroid nodules, low-risk primary papillary thyroid carcinoma, and recurrent thyroid carcinoma. Methods: This consensus was developed through a multidisciplinary expert panel including endocrinologists, nuclear medicine physicians, head and neck surgeons, interventional radiologists, and pathologists. Recommendations were formulated based on a systematic review of the literature, with particular emphasis on KSThR, Korean Thyroid Association, American Thyroid Association, and recent meta-analyses. The strength of recommendations was graded according to available evidence and expert agreement. Results: RFA is recommended as an effective and safe treatment for symptomatic benign thyroid nodules, autonomously functioning thyroid nodules, selected low-risk papillary thyroid carcinoma in carefully chosen patients, and locoregional recurrent thyroid carcinoma in patients who are poor surgical candidates or refuse surgery. Clear criteria for patient selection, imaging evaluation, technical execution, and post-ablation follow-up are presented. When performed by experienced operators in specialized centers, RFA demonstrates high volume reduction rates, favorable local tumor control, preservation of thyroid function, and low complication rates. Conclusion: This Vietnamese expert consensus provides standardized, evidence-based recommendations for thyroid RFA tailored to local clinical practice. RFA represents a valuable therapeutic option in appropriately selected patients and should be integrated into multidisciplinary thyroid disease management algorithms. Nguyễn Thị Tố Ngân GS Pham Minh Thong PGS Vu Dang Luu TS Le Van Khang BS Le Thi My TS Nguyen Ngoc Trang Dr Nguyen Quang Trung Dr Nguyen Quang Bay Dr Le Tuan Linh TS Nguyễn Ngọc Cương TS Lê Thanh Dũng TS Nguyễn Đình Minh PGS Phạm Cẩm Phương PGS.TS Lê Ngọc Hà BS Nguyễn Khắc Hoàng Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 3 22 10.55046/vjrnm.5.1537.2025 ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC GLUCOSE MÁU ĐẾN CHẤT LƯỢNG HÌNH ẢNH VÀ CHỈ SỐ SUVMAX TRONG CHỤP PET/CT https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1472 Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá ảnh hưởng của mức đường huyết đến chất lượng hình ảnh và chỉ số SUV trên phim chụp 18F-FDG PET/CT. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Nghiên cứu thực hiện trên 200 người bệnh ung thư phổi chụp PET/CT đánh giá giai đoạn trước điều trị tại bệnh viện Đại học Phenikaa từ tháng 1/2025 đến tháng 6/2025. Người bệnh được chia theo 4 nhóm tương ứng với mức glucose máu trước tiêm FDG là <6,1mmol/l; 6,1-8,3mmol/l; 8,4-11,1mmol/l và >11,1mmol/l. Chất lượng hình ảnh được đánh giá độc lập bởi 2 bác sỹ Y học hạt nhân bằng thang điểm 1-5 và ghi nhận chỉ số SUVmax của tổn thương cần đánh giá. Kết quả: Chất lượng hình ảnh và SUVmax giảm dần khi đường huyết tăng. Nhóm glucose <6,1mmol/l có điểm trung bình chất lượng hình ảnh cao nhất là 4,8 điểm, SUVmax trung bình là 12,4. Nhóm glucose >11,1mmol/l điểm trung bình chất lượng hình ảnh là thấp nhất với 2,8 điểm, SUVmax trung bình là 8,1, tỷ lệ chụp lại là 15,2%. Từ đấy thấy được ảnh hưởng rõ rệt của glucose máu đến độ nhiễu ảnh và khả năng phát hiện tổn thương Kết luận: Mức đường huyết cao làm suy giảm đáng kể chất lượng hình ảnh và SUVmax. Khuyến cáo mức glucose lý tưởng là <6,1mmol/l và nên kiểm soát dưới mức 8,3mmol/l trước khi chụp. Mai Viết Định Hà Ngọc Hải Phan Công Huấn Hoàng Thị Huyền Trang Nguyễn Kim Lưu BS Trần Văn Biên Bs Nguyễn Thị Trà My Bs Hoàng Văn An Bs Chu Khánh Linh Bs Nguyễn Viết Chinh Copyright (c) 2025 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 23 31 10.55046/vjrnm.5.1472.2025 Đánh giá so sánh thay đổi tổn thương kính mờ trên các phân nhóm bệnh phổi bằng Cắt lớp vi tính định lượng hai thì tại Phòng khám Ngọc Minh Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1379 Bối cảnh: Chụp cắt lớp vi tính định lượng (Quantitative Computed Tomography – QCT) cho phép phát hiện các bất thường nhu mô trong các bệnh phổi lan tỏa với độ nhạy cao. Tuy nhiên, phân tích so sánh sự thay đổi của tổn thương kính mờ (ground-glass – GG) ở thì thở ra - hít vào giữa các nhóm bệnh phổi chính yếu khác nhau vẫn còn hạn chế. Mục tiêu: Đánh giá và so sánh tỷ lệ thay đổi tổn thương kính mờ giữa hai thì hít vào và thở ra ở bốn nhóm bệnh phổi chính: bẫy khí + (Air Trapping +), Khí phế thũng (Emphysema), Bệnh phổi kẽ (Interstitial Lung Disease – ILD, gồm có xơ hóa và không xơ hóa), và nhu mô phổi bình thường. Phương pháp: 46 bệnh nhân được chụp CLVT lồng ngực định lượng ở thì hít vào và thở ra tại Phòng khám Ngọc Minh được phân tích hồi cứu. Tỷ lệ tổn thương GG ở cả hai phổi được trích xuất bằng QCT. Bệnh nhân được phân loại thành 4 nhóm chính dựa trên các đặc điểm QCT. Tỷ lệ thay đổi tổn thương GG giữa thì hít vào và thở ra được tính riêng biệt cho từng bên phổi. Kiểm định Kruskal-Wallis và mô hình hiệu hỗn hợp tuyến tính (Linear Mixed Effects Model – LME) được sử dụng để đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm và trong từng cá thể (theo bên phổi). Kết quả: Nhóm có Bẫy khí + biểu hiện mức tăng trung bình cao nhất của tổn thương GG khi thở ra ở cả hai phổi (Phổi phải: 100,4%; Phổi trái: 81,6%), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm còn lại (p < 0,01). Ngược lại, các nhóm ILD, Khí phế thủng và Bình thường chỉ ghi nhận thay đổi ở mức độ vừa phải (Phổi phải: 35,7–42,6%; Phổi trái: 39,3–53,5%). Phân tích lặp lại bằng mô hình LME xác nhận hiệu ứng có ý nghĩa trong cá thể (sự thay đổi GG lớn hơn ở phổi phải, p = 0,024) và sự tương tác có ý nghĩa giữa nhóm bệnh và bên phổi, đặc biệt ở nhóm Bình thường (p = 0,048). Các biểu đồ hộp (boxplots) trực quan làm nổi bật các xu hướng này. Kết luận: Sự thay đổi tổn thương GG khi thở ra khác biệt rõ rệt giữa các kiểu hình bệnh phổi, trong đó nhóm Bẫy khí + biểu hiện sự tăng rõ rệt nhất. Kết quả trên hỗ trợ giá trị của chụp QCT thì hít vào – thở ra trong phát hiện các bệnh lý đường dẫn khí nhỏ tiềm ẩn. Sự chênh lệch theo bên phổi gợi ý tính không đồng nhất thông khí theo vùng nhu mô phổi. Các phát hiện này nhấn mạnh ý nghĩa lâm sàng của chụp QCT thì thở ra trong phân biệt các bệnh lý hô hấp khác nhau. Hoàng Thị Triều Nghi BS Bùi Nguyên Cảnh BS Cao Xuân Minh BS Nguyễn Thanh Lưu BS Bùi Chiến Thắng BS Trần Văn Ngọc Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 32 38 10.55046/vjrnm.5.1379.2025 Association of left atrial volume and function by CMR with clinical and imaging findings in hypertrophic cardiomyopathy https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1534 Objective: To evaluate the correlation of left atrial (LA) volume and function assessed by cardiac magnetic resonance (CMR) with selected clinical and imaging findings in patients with hypertrophic cardiomyopathy (HCM). Subjects and Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 58 patients diagnosed with HCM at Bach Mai Hospital from March 2024 to October 2025. All patients underwent CMR imaging to assess LA volume (LAVmax, LAVmin, LAVpreA) and LA function (LAEFp, LAEFa, LAEFt, LA strain) using the specialized software CVI42 (Circle Cardiovascular Imaging). Correlations were analyzed using IBM SPSS Statistics for Windows, version 20.0. Results: The mean age was 56.6 ± 18.0 years, with a male-to-female ratio of 1.4:1. Significant correlations were found of LA indices with: (1) Dyspnea severity: LA volume progressively increased and function decreased with worsening dyspnea. (2) Extent of Late Gadolinium Enhancement (LGE): Moderate to strong correlations were observed with all LA volume and function indices (all p < 0.01). (3) Left Ventricular Mass (LVM): Moderate correlation with LAEFp (r = -0.39, p = 0.003) but no correlation with LAEFa and LAEFt. Maximal left ventricular wall thickness (Max LVWT) showed no significant correlation (p > 0.05). Conclusion: CMR-derived LA volume and function indices demonstrate a strong correlation with dyspnea severity and the extent of LGE (myocardial fibrosis) but show a weak correlation with the degree of left ventricular hypertrophy. Nguyễn Đức Thành TS Nguyễn Khôi Việt TS Nguyễn Quang Anh TS Nguyễn Ngọc Tráng Bs Hoàng Thị Vân Hoa BS Lê Thị Thuỳ Liên Bs Phùng Bảo Ngọc Bs Trần Thị Quỳnh Bs Trần Thị Lý Bs Nguyễn Thị Huyền Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 42 49 10.55046/vjrnm.5.1534.2025 CARDIOVASCULAR APPLICATIONS OF PHOTON-COUNTING CT TECHNOLOGY https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1533 Coronary computed tomography (CT) angiography plays a pivotal role in the diagnosis and treatment of patients with artery disease. However, unlike conventional CT systems, photon-counting computed tomography (PCCT) introduces substantial technological improvements, includes improved spatial and contrast resolution, energy discrimination, and reduction of various artifacts. As a result, PCCT enables superior coronary lumen and plaque evaluation, even in complex cases with severe calcification or smaller coronary stents. Beyond the coronary arteries, PCCT offers improved visualization of cardiac anatomy and myocardial tissue characterization with the potential to reduce downstream testing, improve diagnosis and treatment, and ultimately improve clinical outcomes. This review explores the technical principles of PCCT, its advantages over conventional CT, and its current and potential future applications in cardiac imaging. ThS.BSNT Nguyễn Văn Tú TS Nguyễn Khôi Việt TS Nguyễn Ngọc Tráng BSCKII Lê Thị Thùy Liên BSCKII Hoàng Thị Vân Hoa BSCKII Phùng Bảo Ngọc ThS Trần Thị Quỳnh Trần Thị Lý ThS Nguyễn Thị Huyền PGS Trần Anh Tuấn PGS Vũ Đăng Lưu BSCKII Ngô Quang Định Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 50 54 10.55046/vjrnm.5.1533.2025 GIẢI ÁP ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG QUA DA BẰNG PLASMA https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1468 Case1: Bệnh nhân Nam 45T xuất hiện đau vùng thắt lưng lan xuống mông, mặt sau đùi cẳng chân trái, bệnh diễn biến 3 tháng. Bệnh nhân đã điều trị dùng thuốc nội khoa Non Steroid, giãn cơ, điều trị phục hồi chức năng 2 tuần không đỡ. Khám lâm sàng VAS 8đ, Lasegue (+) 45º, đi lại khó khăn. Kết quả chụp MRI có thoái hóa và thoát vị đĩa đệm L3/4, L4/5. BN được chỉ định can thiệp giải áp đĩa đệm L3/4, L4/5 dưới CLVT. Sau can thiệp gần 2 tháng BN giảm các triệu chứng rõ, VAS 2đ. Chụp MRI kiểm tra giảm mức độ phần thoát vị đĩa đệm ra sau. Case 2: Bệnh nhân Nam 54t đến khám ngày 27/12/2024 xuất hiện đau vùng thắt lưng lan xuống mông, mặt bên ngoài đùi cẳng chân phải, bệnh diễn biến 2 tuần, VAS 8đ, đi lại khó. Kết quả chụp MRI có thoát vị đĩa đệm L3/4 ra sau thể lồi cạnh trung tâm phải. Bệnh nhân được điều trị bảo tồn nội khoa dùng thuốc kết hợp phục hồi chức năng sau 4 tuần triệu chứng giảm VAS 6đ, khi đi lại nhiều bị đau kéo ghì xuống chân phải. bệnh nhân được chỉ định can thiệp giải áp đĩa đệm L3/4 qua da dưới cắt lớp vi tính. Sau can thiệp hơn 2 tháng bệnh nhân giảm rõ rệt các triệu chứng đi lại bình thường, hơi đau mỏi vùng thắt lưng VAS 1-2đ, chụp MRI kiểm tra không còn quan sát thấy thoát vị đĩa đệm L3/4. Case 3: Bệnh nhân Nữ 66t đến khám ngày 08/08/2024 với triệu chứng đau vùng thắt lưng lan xuống mông, mặt sau đùi cẳng chân phải, VAS 7đ, đi lại khó. Bệnh diễn biến khoảng 8 tháng, đã điều trị đông y châm cứu, cấy chỉ, đắp lá, phục hồi chức năng không đỡ. Kết quả chụp MRI cột sống thắt lưng có thoát vị đĩa đệm L4/5 ra sau thể lồi cạnh trung tâm phải gây hẹp 2/4 ống sống và cùng hóa L5. Bệnh nhân được chỉ định can thiệp giải áp đĩa đệm L4/5 qua da dưới cắt lớp vi tính. Sau can thiệp 1 tháng các triệu chứng giảm không đáng kể, Bệnh nhân được chụp lại MRI cột sống thắt lưng và kết quả không thấy sự thay đổi thoát vị đĩa đệm L4/5. Thảo luận:Giải áp đĩa đệm bằng plasma (PPDD) là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu được sử dụng để điều trị thoát vị hoặc phình đĩa đệm. Phương pháp sử dụng năng lượng nhiệt để loại bỏ một phần mô đĩa đệm, giảm áp lực và giảm đau. Thủ thuật này bao gồm việc đưa kim vào đĩa đệm, luồn ống thông qua đĩa đệm và làm nóng đầu kim đến nhiệt độ cụ thể, làm đông tụ và loại bỏ một số mô đĩa đệm. Hiệu quả và tính an toàn của phương pháp PPDD đã được chứng minh qua các nghiên cứu. Kết quả điều trị phụ thuộc vào các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ. Do đó, lựa chọn bệnh nhân đúng chỉ định có thể mang lại kết quả khả quan. BS Lê Hoàng Long BS Lê Thế Biên Bs Đỗ Mạnh Đông Bs Lê Lệnh Tiến BS Lâm Tùng Dương BS Trần Quang Khai BS Phan Văn Báu Bs Lê Lệnh Chung Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 55 62 10.55046/vjrnm.5.1468.2025 Rò rỉ cement vào tĩnh mạch chủ dưới kèm thuyên tắc phổi do cement: Báo cáo ca lâm sàng https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1479 Rò rỉ cement vào hệ tĩnh mạch là một biến chứng hiếm gặp nhưng có thể nghiêm trọng của thủ thuật tạo hình thân đốt sống. Chúng tôi báo cáo trường hợp đầu tiên tại Việt Nam ghi nhận rò cement vào tĩnh mạch chủ dưới (IVC) kèm thuyên tắc phổi do cement. Bệnh nhân nam 55 tuổi được tạo hình thân đốt sống L4–L5 bằng cement sau viêm đĩa đệm–thân đốt sống. Trên hình ảnh theo dõi, phát hiện cement thoát mạch trong lòng IVC và các nhánh động mạch phổi. Đáng chú ý, bệnh nhân nhập viện vì đau thắt lưng mà không có triệu chứng hô hấp; thuyên tắc phổi do cement được phát hiện tình cờ trên CT. Trường hợp này nhấn mạnh vai trò quan trọng của chẩn đoán hình ảnh trong phát hiện biến chứng thuyên tắc “im lặng” và sự cần thiết của kỹ thuật thủ thuật thận trọng cũng như theo dõi định kỳ sau tạo hình thân đốt sống. Lê Văn Lãm Trương Minh Thương Trần Quyết Thắng Nguyễn Nhựt Linh Nguyễn Đức Trọng Nguyễn Đức Tỉnh Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 63 67 10.55046/vjrnm.5.1479.2025 MISSED ON ULTRASOUND, CAUGHT ON MRI: A CASE OF CLOSED-LOOP SMALL BOWEL OBSTRUCTION IN PREGNANCY https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1445 Giới thiệu ca lâm sàng: Tắc ruột non ở phụ nữ mang thai là một thách thức chẩn đoán do triệu chứng chồng lấp giữa các bệnh lý sản khoa và tiêu hóa. Chúng tôi báo cáo một trường hợp sản phụ 27 tuổi, mang thai 26 tuần 6 ngày, bị tắc ruột non quai đóng ở giai đoạn muộn mà siêu âm ban đầu không thể đưa ra chẩn đoán chắc chắn. Báo cáo lâm sàng: Sản phụ có tiền sử mổ mở cắt ruột thừa và bóc u buồng trứng, nhập viện với triệu chứng đau bụng dai dẳng vùng hạ sườn phải, nôn ói và không trung tiện. Kết quả chẩn đoán hình ảnh ban đầu tại bệnh viện tuyến trước nghi ngờ viêm ruột và có dấu hiệu dọa sinh non. Khi được chuyển đến cơ sở của chúng tôi, siêu âm ghi nhận các quai ruột non giãn, nhu động kém và có dịch tự do tăng âm vùng hố chậu phải – gợi ý khả năng tắc ruột non có hoại tử ruột, tuy nhiên hình ảnh chưa đủ rõ ràng. Sau đó, sản phụ được chụp MRI, ghi nhận hình ảnh các quai ruột giãn thành cụm, điểm chuyển tiếp, phù mạc treo, dịch tự do ổ bụng và dấu hiệu “phân trong ruột non” – phù hợp với chẩn đoán tắc ruột quai đóng. Bệnh nhân được chỉ định mổ cấp cứu. Tường trình phẫu thuật ghi nhận các quai hồi tràng bị xoắn và hoại tử. Bệnh nhân được mổ cắt đoạn ruột tổn thương và nối hồi-manh tràng. Sau mổ, cả sản phụ và thai nhi đều ổn định. Thảo luận: Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá chính xác, chẩn đoán kịp thời và can thiệp đúng lúc đối với tắc ruột non trong thai kỳ. MRI nên được cân nhắc sớm khi siêu âm không cung cấp đủ thông tin, vì đây là phương pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị cao mà không gây phơi nhiễm bức xạ cho sản phụ và thai nhi. Việc chẩn đoán chậm trễ có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như hoại tử ruột và ảnh hưởng tiêu cực đến kết cục thai kỳ. BSNT Huỳnh Ngọc Phương Thanh BSNT Đỗ Nguyễn Nhật Quang BS Nhân Nguyễn Thị BS Nguyễn Hùng Cường PSG. BS Bùi Văn Giang TS Ngô Văn Đoan Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 68 72 10.55046/vjrnm.5.1445.2025 Imaging Characteristics of Periosteal Ewing Sarcoma: A Rare Case Report and the Diagnostic Challenges in Differentiating Surface-Based Bone Lesions https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1525 Sarcoma Ewing (ES) là một loại u ác tính thuộc nhóm tế bào tròn nhỏ, thường phát triển trong khoang tủy của xương. Một thể hiếm gặp của bệnh, được gọi là Sarcoma Ewing dưới màng xương (Periosteal Ewing Sarcoma – PES), phát sinh từ các tế bào trung mô đa năng nằm trong màng xương. Thể bệnh này thường gặp ở nam giới, xuất hiện chủ yếu trong thập kỷ thứ hai của cuộc đời và hay gặp nhất ở xương đùi. Do đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học không đặc hiệu, PES dễ bị chẩn đoán nhầm với các tổn thương xương bề mặt khác. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bé trai 7 tuổi nhập viện vì đau tăng dần vùng đùi phải trong vòng hai tháng. Hình ảnh X-quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI) cho thấy một tổn thương phá hủy vỏ xương dạng tiêu xương ở thân dưới xương đùi, ban đầu được nghĩ đến nhiều nhất là sarcoma tạo xương dưới màng xương (Periosteal Osteosarcoma – POS). Bệnh nhân sau đó được sinh thiết dưới hướng dẫn siêu âm. Kết quả mô bệnh học kết hợp với hóa mô miễn dịch xác định chẩn đoán là Sarcoma Ewing dưới màng xương. Trường hợp này nhấn mạnh những khó khăn trong chẩn đoán hình ảnh của PES và tầm quan trọng của việc nhận biết các đặc điểm hình ảnh học đặc trưng của bệnh – đặc biệt là trong việc phân biệt với các u xương bề mặt khác – trong bối cảnh lâm sàng phù hợp. ThS.BSNT Nguyễn Thị Thanh Nhàn Nguyễn Văn Tú TS Đàm Thủy Trang TS Phạm Mạnh Cường BSCKII Nguyễn Thị Tố Ngân PGS.TS Vũ Đăng Lưu Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 73 79 10.55046/vjrnm.5.1525.2025 The Role of Epidural Blood Patch in the Treatment of Spontaneous Intracranial Hypotension: Two cases report https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1390 Spontaneous intracranial hypotension (SIH) is a rare but treatable condition characterized by postural headaches and imaging findings suggestive of cerebrospinal fluid (CSF) leakage1–3. This report highlights two cases of SIH diagnosed through clinical presentation, brain MRI, and CSF leak localization using myelography. Both patients underwent computed tomography (CT)-guided epidural blood patch (EBP) treatment. We inserted a needle into the epidural space near the cerebrospinal fluid leakage site and proceeded to inject autologous blood. The procedure was performed under CT guidance to ensure accurate injection and safety, thereby enhancing treatment efficacy and avoiding unnecessary complications. Following the treatment, our cases all showed positive outcomes. Significant clinical improvement, including resolution of postural headaches, was noted shortly after treatment. Follow-up MRI scans performed one week later demonstrated substantial recovery of imaging abnormalities. Along with previously reported cases worldwide4 and our cases, this demonstrates that CT-guided EBP is a minimally invasive method that provides high therapeutic efficacy and safety for patients. Nguyễn Phương Anh BS Nguyen Anh Tuan BS Le Van Khanh TS Nguyen Duy Trinh PGS.TS Nguyen Xuan Hien Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam 2026-01-10 2026-01-10 5 80 84 10.55046/vjrnm.5.1390.2025