Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm <p>Tạp ch&iacute; Điện quang &amp; Y học hạt nh&acirc;n Việt Nam thuộc Hội Điện quang v&agrave; Y học hạt nh&acirc;n Việt Nam l&agrave; diễn đ&agrave;n trao đổi th&ocirc;ng tin khoa học v&agrave; hoạt động của chuy&ecirc;n ng&agrave;nh Điện quang v&agrave; Y học hạt nh&acirc;n tr&ecirc;n cả nước. Tạp ch&iacute; xuất bản 4 số tiếng Việt v&agrave; 1 số tiếng Anh/năm, đăng tải c&aacute;c c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu khoa học, b&agrave;i tổng quan, b&agrave;i ca l&acirc;m s&agrave;ng hay cũng như c&aacute;c th&ocirc;ng tin hoạt động của Hội... tạo điều kiện trao đổi khoa học, kinh nghiệm giữa hội vi&ecirc;n Hội Điện quang v&agrave; Y học hạt nh&acirc;n Việt Nam v&agrave; c&aacute;c Hội chuy&ecirc;n ng&agrave;nh kh&aacute;c. Ban bi&ecirc;n tập rất mong nhận được sự cộng t&aacute;c viết b&agrave;i của c&aacute;c t&aacute;c giả cho Tạp ch&iacute;.</p> vi-VN T3, 22 Thg 9 2026 02:28:05 +0000 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 GIÁ TRỊ CỦA CẮT LỚP VI TÍNH ĐẾM PHOTON ĐỘ PHÂN GIẢI SIÊU CAO TRONG HÌNH ẢNH TIM MẠCH https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1653 Cắt lớp vi tính đếm photon độ phân giải siêu cao là bước tiến trong hình ảnh tim mạch nhờ thu nhận trực tiếp photon tia X, đầu dò nhỏ và dữ liệu đa năng lượng. Bài tổng quan này phân tích cơ sở kỹ thuật, bằng chứng lâm sàng và lựa chọn người bệnh cho chụp mạch vành độ phân giải siêu cao. Tài liệu được tìm kiếm trên PubMed/MEDLINE và các tạp chí đến ngày 14/8/2026, ưu tiên nghiên cứu đối chiếu nội cá thể và chụp mạch xâm lấn. Bằng chứng cho thấy kỹ thuật giảm nở hoa do vôi hóa và stent, cải thiện định lượng hẹp, đánh giá lòng stent và độ lặp lại của phân tích mảng xơ vữa. Lát cắt rất mỏng làm tăng nhiễu, dữ liệu và độ nhạy với chuyển động, nên không áp dụng đại trà. Giá trị lớn nhất hiện nay ở bệnh nhân vôi hóa nặng, có stent, mạch nhỏ hoặc kết quả thường quy không xác định. Nghiên cứu đa trung tâm về kết cục, liều tia, chuẩn hóa mảng xơ vữa và trí tuệ nhân tạo vẫn cần thiết. Từ khóa: cắt lớp vi tính đếm photon; độ phân giải siêu cao; động mạch vành; stent; mảng xơ vữa. NGÔ QUANG ĐỊNH, Trần Văn Giang, Tạ Quang Huy Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1653 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH VÀ BIẾN THỂ MẠCH MÁU VÙNG MẠC TREO TỤY TRÊN CẮT LỚP VI TÍNH ĐA DÃY: NGHIÊN CỨU MÔ TẢ HỒI CỨU TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1603 Mạc treo là vùng mô liên kết - thần kinh - mạch máu nằm phía sau đầu tổn thương và mím móc vá, có liên quan đến đường lan tràn của bệnh lý ác tính vùng đầu sẹo và chiến lược lướt thuật cắt khối tá tụy. Nhận được hình ảnh đặc biệt và các mạch máu biến đổi trong vùng này có ý nghĩa trong đánh giá tiền cảnh. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình thái, các hình ảnh thông số và phân chia mạch máu vùng võng mạc treo trên cắt lớp vi tính đa chuỗi kết hợp dựng hình ba chiều. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi nghiên cứu trên 129 trường hợp hợp được chụp CLVT đa chuỗi truyền máu tiêm quang tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2025 đến tháng 5/2026. Hình ảnh được phân tích trên hệ thống PACS và phần mềm Syngo.Thông qua việc đánh giá thái độ, thể tích, tỷ lệ, kích thước và cấu trúc mạch máu trong vùng diều sâu. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 52 ± 18 tuổi. Mạc treo thiếu chủ yếu có hình chuông (51,94%) hoặc đa diện (48,06%). Thể tích trung bình là 6,48 ± 4,44 cm³; tỷ lệ trung bình là -12,64 ± 29,39 HU. Mạch máu trong vùng tổn thương của võng mạc được nhận diện ở 99,22% trường hợp. IPDA và IPDV là hai cấu trúc thường gặp nhất, lần lượt sử dụng 95,35% và 86,82%. IPDA thường phân tách chung với nhánh hỗ trợ mạch tràng đầu tiên (61,79%), trong khi IPDV thường chuyển về mạch hỗ trợ mạch mạch đầu tiên (55,35%). Kết luận: CLVT kết hợp nhiều chuỗi theo ba chiều cho phép nhận dạng hình ảnh cụ thể và các mạch máu của vùng diều sâu. IPDA và IPDV là các giải pháp thông minh, có giá trị định hướng trong việc đánh giá tiền bảo vệ vùng đầu đục. Lê Thị Thảo Vi, Tran Đuc Huy, Nguyễn Thành Khiêm, Nguyễn Quang Anh, Nguyễn Thị Khơi, Vũ Đăng Lưu Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1603 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỐT SÓNG CAO TẦN THEO DÕI TỐI THIỂU 2 NĂM TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1621 Đặt vấn đề: Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) là một trong những ung thư phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao tại Việt Nam. Đốt sóng cao tần (RFA) là phương pháp điều trị chuẩn cho UTBMTBG giai đoạn sớm, tuy nhiên còn ít nghiên cứu trong nước đánh giá kết quả điều trị với thời gian theo dõi tối thiểu 2 năm. Mục tiêu: (1) Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh học của nhóm đối tượng nghiên cứu; (2) Đánh giá kết quả điều trị UTBMTBG bằng RFA được theo dõi tối thiểu 2 năm tại Viện Điện quang chẩn đoán và can thiệp, Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu, theo dõi dọc trên 74 khối u (57 bệnh nhân) UTBMTBG được điều trị RFA tại Viện Điện quang chẩn đoán và can thiệp, Bệnh viện Bạch Mai, theo dõi tối thiểu 24 tháng. Các chỉ số đánh giá gồm: tỷ lệ đốt đạt ngay sau thủ thuật, tỷ lệ tái phát tại chỗ, tỷ lệ sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không bệnh (DFS) tại 12, 18 và 24 tháng, cùng tỷ lệ biến chứng. Kết quả: Tuổi trung bình 62,4 tuổi (23–87), tỷ lệ nam/nữ = 68/6. Viêm gan B là yếu tố nguy cơ chính (82,4%). Kích thước u trung bình 18,2 mm (6–43 mm); 92% BCLC giai đoạn 0 và A. Tỷ lệ đốt đạt ngay sau thủ thuật đạt 94,6%. Sau 2 năm theo dõi, tỷ lệ tái phát tại chỗ là 20,3%, OS đạt 98,6% và DFS đạt 66,2%. Vị trí nguy cơ cao là yếu tố liên quan tới tái phát (33,3% so với 14,0%). Tỷ lệ biến chứng chung là 16,2%, tất cả độ I–II, không có tử vong liên quan thủ thuật. Kết luận: RFA là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho UTBMTBG giai đoạn sớm tại Bệnh viện Bạch Mai, với tỷ lệ đốt đạt cao và tỷ lệ sống thêm toàn bộ cao sau 2 năm theo dõi. Từ khóa: Ung thư biểu mô tế bào gan, đốt sóng cao tần, RFA, tái phát. Lê Thị Thương, Lê Văn Khảng, Nguyễn Thị Khơi, Vũ Đăng Lưu Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1621 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 GIÁ TRỊ CỦA CẮT LỚP VI TÍNH ĐA DÃY TRONG ĐÁNH GIÁ XÂM LẤN MẠC TREO TỤY ĐỐI VỚI UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN ỐNG ĐẦU TỤY: ĐỐI CHIẾU GIẢI PHẪU BỆNH SAU PHẪU THUẬT https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1631 Mục tiêu Đánh giá giá trị của cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy trong đánh giá xâm lấn mạc treo tụy ở bệnh nhân ung thư đầu tụy, đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 59 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến ống đầu tụy được phẫu thuật tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2025. Tất cả bệnh nhân được chụp CLVT đa dãy trước mổ để đánh giá khả năng cắt bỏ theo tiêu chuẩn NCCN, mức độ thâm nhiễm mạc treo tụy và tỷ trọng mạc treo tụy. Hai bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đọc phim độc lập và thống nhất kết quả cuối cùng bằng đồng thuận. Kết quả hình ảnh được đối chiếu với giải phẫu bệnh sau phẫu thuật. Phân tích tương quan được thực hiện bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Kết quả Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 61,9 ± 9,8 tuổi; nam chiếm 54,2%. Trên giải phẫu bệnh, 35/59 trường hợp (59,3%) có xâm lấn mạc treo tụy. Theo NCCN, u có thể cắt bỏ được chiếm 79,7%, u ở mức ranh giới cắt bỏ chiếm 20,3%. Mức độ thâm nhiễm mạc treo tụy trên CLVT: không thâm nhiễm 35,6%, thâm nhiễm sợi 32,2%, thâm nhiễm rắn 32,2%. Khi sử dụng giải phẫu bệnh sau phẫu thuật làm tiêu chuẩn vàng, dấu hiệu có thâm nhiễm mạc treo tụy trên CLVT cho độ nhạy 80,0%, độ đặc hiệu 58,3% và độ chính xác 71,2% trong dự đoán xâm lấn mạc treo tụy. Nếu xem thâm nhiễm rắn trên CLVT là tiêu chuẩn dương tính, các giá trị lần lượt là 48,6%, 91,7%, 66,1%. Tỉ trọng mạc treo tụy trên CLVT có giá trị trong dự đoán xâm lấn mạc treo tụy với diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,718 (CI95%: 0,589–0,847; p = 0,005), cho thấy khả năng phân biệt ở mức trung bình khá; ngưỡng tối ưu xác định theo chỉ số Youden là 10 HU, cho độ nhạy 60,0% và độ đặc hiệu 83,3%. Kết luận CLVT đa dãy cho khả năng dự báo xâm lấn mạc treo tụy ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến ống đầu tụy ở mức độ trung bình. Hình ảnh thâm nhiễm rắn là dấu hiệu có độ đặc hiệu cao đối với xâm lấn mạc treo tụy trên giải phẫu bệnh. Tỷ trọng mạc treo tụy là một dấu hiệu hình ảnh hữu ích giúp dự đoán xâm lấn mạc treo tụy trước phẫu thuật. Lê Thị Hằng, Nguyễn Thành Khiêm, Trần Đức Huy, Trần Văn Thông, Trần thị Lan, Nguyễn Quang Anh, Vũ Đăng Lưu, Nguyễn Hàm Hội, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Thanh Nhàn Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1631 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA MÔ HÌNH HỌC MÁY TRONG PHÁT HIỆN BẤT THƯỜNG TRUNG THẤT TRÊN X-QUANG NGỰC THẲNG https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1630 TÓM TẮT Mục tiêu nghiên cứu: Bước đầu khảo sát giá trị của mô hình học máy trong phát hiện bất thường trung thất trên hình X-quang ngực thẳng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9/2018 đến tháng 6/2025. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 735 hình X-quang ngực thẳng, trong đó có 441 trường hợp bất thường trung thất (bao gồm 260 ca u trung thất, 181 ca phình động mạch chủ ngực) và 294 trường hợp bình thường. Tất cả các trường hợp đều được đối chiếu với hình ảnh chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ lồng ngực để xác định trung thất bình thường hay bất thường. Các hình X quang được tiền xử lý nhằm chuẩn hóa chất lượng trước khi đưa vào huấn luyện mô hình ResNet34 theo phương pháp học có giám sát. Mô hình sau khi huấn luyện sẽ nhận hình X-quang ngực và phân loại thành hai nhóm: trung thất bình thường và bất thường. Giá trị chẩn đoán của mô hình được đánh giá thông qua kỹ thuật kiểm định chéo 5 lần. Kết quả: Trong nhóm có tổn thương trung thất, nam giới chiếm ưu thế với tỷ lệ 59,2% và độ tuổi trung bình cao hơn so với nhóm không có tổn thương (58,4 ± 19,1 so với 43,4 ± 14,2 tuổi; p <0,05). Sự khác biệt về phân bố giới tính giữa hai nhóm cũng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Hai dấu hiệu X-quang thường gặp nhất ở nhóm có tổn thương là hiện diện bờ trung thất bất thường (66,7%) và trung thất mở rộng (30,4%). Về giá trị chẩn đoán trong nhóm tổn thương, mô hình ResNet34 đạt diện tích dưới đường cong là 0,95 với khoảng tin cậy (KTC) 95% là 0,93-0,98 và độ chính xác là 0,87 (KTC 95% là 0,82-0,92). Các chỉ số giá trị khác bao gồm: điểm F1 đạt 0,88 (KTC 95% là 0,82-0,94), độ nhạy 0,83 (KTC 95% là 0,72-0,94), độ đặc hiệu 0,93 (KTC 95% là 0,88-0,98), giá trị tiên đoán dương 0,95 (KTC 95% là 0,92-0,98) và giá trị tiên đoán âm 0,79 (KTC 95% là 0,69-0,88). Kết luận: Kết quả bước đầu cho thấy mô hình học máy có giá trị cao trong phát hiện bất thường dạng khối choán chỗ trung thất trên hình X-quang ngực thẳng. Từ khóa: mô hình học máy, X-quang ngực thẳng, tổn thương trung thất. Tran Thuy, Duc Vo, Thoai Nguyen, Vy Tran, Chien Phan, Minh Le, Hien Nguyen, Huy Nguyen, Ha Nguyen Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1630 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ TRONG CHẨN ĐOÁN RÒ HẬU MÔN TÁI PHÁT https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1634 Tóm tắt Mục tiêu: Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ (CHT) trong chẩn đoán rò hậu môn tái phát thông qua khả năng xác định đường rò chính, lỗ rò trong, tương quan với hệ thống cơ thắt hậu môn đối chiếu với kết quả phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên các bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng rò hậu môn tái phát, được chụp cộng hưởng từ vùng chậu trước phẫu thuật và có kết quả phẫu thuật đối chiếu. Các đặc điểm hình ảnh trên CHT bao gồm phân loại đường rò, vị trí lỗ rò trong, tương quan với cơ thắt được so sánh với kết quả trong mổ. Giá trị chẩn đoán của CHT được đánh giá thông qua độ nhạy, tỉ lệ chẩn đoán đúng, hệ số đồng thuật kappa giữa kết quả đọc MRI và phẫu thuật Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận nam giới chiếm 93,3%, tuổi trung bình 41,7 ± 15; rò xuyên cơ thắt thường gặp nhất (78,8%). MRI phát hiện đường rò với độ nhạy và độ chính xác 97%, đồng thời có mức độ phù hợp tốt với phẫu thuật trong phân loại đường rò và xác định lỗ trong, với Kappa lần lượt là 0,717 và 0,758 (p < 0,001). Kết luận: Cộng hưởng từ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị cao trong đánh giá rò hậu môn tái phát. Phương pháp này cung cấp đầy đủ thông tin giải phẫu của hệ thống đường rò, hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật chính xác, góp phần làm giảm tỷ lệ tái phát sau mổ và bảo tồn chức năng cơ thắt hậu môn. Từ khóa: Rò hậu môn tái phát; cộng hưởng từ; lỗ rò trong. Ngô Ngọc Minh, Hoàng Nguyên Tài, TS. LÊ VĂN KHẢNG, PGS. TS. Vũ Đăng Lưu Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1634 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN CỦA NÚT MẠCH CHỌN LỌC ĐIỀU TRỊ U MẠCH CƠ MỠ THẬN https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1563 TÓM TẮT Mục tiêu: Để đánh giá sự giảm kích thước và các biến chứng liên quan đến nút mạch chọn lọc (SAE) trong việc điều trị các u mạch cơ mỡ thận (AML). Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi đã nghiên cứu hồi cứu 35 trường hợp SAE điều trị AML được thực hiện từ năm 2019 đến 2024 tại bệnh viện Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu thu thập bao gồm các đặc điểm khối u, hình ảnh trước và sau can thiệp, và kết cục lâm sàng. Kích thước khối u được đo bằng sự kết hợp của cắt lớp vi tính (CLVT), cộng hưởng từ, và siêu âm. Các kết quả chính bao gồm độ giảm thể tích và đường kính khối u, các biến chứng và thay đổi chức năng thận. Kết quả: Đường kính trung vị của khối u giảm từ 6,0 cm xuống 5,0 cm và thể tích trung vị giảm từ 55,8 mL xuống 34,2 mL, với mức giảm thể tích trung vị là 48,4%. Bệnh nhân được theo dõi trung bình 14,9 tháng. Ba bệnh nhân (8,6%) cần tái can thiệp do triệu chứng kéo dài hoặc khối u phát triển. Hội chứng sau nút mạch xảy ra ở 14,3% các trường hợp. Một biến chứng lớn là áp xe thận (2,9%). Không có trường hợp tử vong liên quan điều trị được ghi nhận. Không có sự thay đổi đáng kể nồng độ creatinine huyết thanh sau SAE. Kết luận: SAE là một phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho các AML thận, mang lại sự giảm kích thước khối u đáng kể với tỷ lệ biến chứng nặng thấp. Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Quang Thái Dương, Thiều Lê Duy; Trần Triệu Quốc Cường, Ngô Hoàng Huy; Võ Tấn Đức Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1563 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 CT AND MRI IMAGING CHARACTERISTICS OF ADRENAL PHEOCHROMOCYTOMA https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1645 Objective: (1) To describe the computed tomography (CT) and magnetic resonance imaging (MRI) characteristics of adrenal pheochromocytoma; (2) To evaluate the role of CT and MRI in the diagnosis of pheochromocytoma. Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 70 patients diagnosed at Bach Mai Hospital. Age, sex and hypertension were analyzed tumor location, size and imaging features on CT (cystic degeneration, necrosis, calcification, contrast washout) and MRI (cystic degeneration, T2-weighted signal, lightbulb sign, diffusion restriction on ADC map). Results: Mean age was 48.1 ± 15.7 years (range 11–78); female/male ratio was 1:1. Hypertension was present in 72.9% of patients (n=70). Tumors were more common on the right side (55.4%). Among 74 tumors, with a mean size of 50.4 ± 24.0mm; 82.4% of tumors were larger than 30mm. CT was performed in 63 tumors (85.1%) and MRI in 23 tumors (31.1%). On CT, cystic degeneration, necrosis and calcification were observed in 49.2%, 33.3% and 20.6% of cases, respectively. On MRI, T2 hyperintensity was present in 91.3%, diffusion restriction in 82.6%, while the classic lightbulb sign was seen in only 39.1%. Combined sensitivity reached 55.6-77.8% on CT and 100% on MRI (T2 hyperintensity and/or diffusion restriction). Conclusions: Pheochromocytoma shows characteristic imaging features on CT and MRI, with T2 hyperintensity and diffusion restriction being the most frequently observed MRI signs. Larger tumors are associated with more pronounced degenerative changes (necrosis, calcification, cystic degeneration) on CT. Keywords: Pheochromocytoma, adrenal medulla tumor, computed tomography, magnetic resonance imaging, diagnostic imaging. Trần Thị Thu Hương, Nguyễn Thanh Thuỷ, Nguyễn Quang Anh, Vũ Đăng Lưu Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1645 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM ĐÀN HỒI MÔ TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN T1 https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1638 Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả việc phối hợp siêu âm đàn hồi mô nén (SE) và siêu âm đàn hồi sóng biến dạng (SWE) với siêu âm B-mode trong phân biệt tổn thương vú lành tính và ác tính có đường kính nhỏ hơn 20mm. Phân tích 84 bệnh nhân, với 95 tổn thương u vú có kích thước ≤ 20mm, được phân loại từ BI-RADS 3 trở lên trên siêu âm B-mode, SWE và SE. Kết quả cho thấy các chỉ số so sánh đường kính, chỉ số đàn hồi mô mỡ với tổn thương (FTL ratio), và giá trị độ cứng trung bình (Emean) đều cao hơn nhóm ác tính (p < 0.001). Ngưỡng 1,01 của chỉ số so sánh đường kính cho độ nhạy 93,9% và độ đặc hiệu 83,9%; ngưỡng 3,24 của FTL ratio cho độ nhạy 97,0% và độ đặc hiệu 71,0%; Emean 60 kPa cho độ nhạy 78,8% và độ đặc hiệu 91,9%. Phối hợp siêu âm đàn hồi mô giúp tăng độ đặc hiệu và độ chính xác trong phân biệt tổn thương vú, tuy nhiên làm giảm độ nhạy của chẩn đoán, đặc biệt là các tổn thương có đường kính ≤ 10mm, do đó không nên hạ BI-RADS chỉ dựa vào một ngưỡng đàn hồi đơn lẻ. Cù Thị Diệu Linh, Nguyễn Bích Diệp, Lưu Hồng Nhung, Vũ Đăng Lưu, Lại Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Thanh Thuỷ, Nguyễn Thị Tố Ngân, Nguyễn Thị Thu Thảo, Nguyễn Thị Khơi, Nguyễn Thị Huyền, Phạm Thị Phương, Trần Thị Đỗ Quyên, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Quỳnh Trâm, Nguyễn Khôi Việt Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1638 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 Đặc điểm và giá trị của giả vỏ quanh u trên cộng hưởng từ trong đánh giá giai đoạn tại chỗ của ung thư biểu mô tế bào thận https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1615 TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả đặc điểm giả vỏ quanh u trên cộng hưởng từ và đánh giá giá trị của phân loại MRI-Cap trong dự đoán mức độ xâm lấn giả vỏ trên giải phẫu bệnh (i-cap) và giai đoạn bệnh học tại chỗ của ung thư biểu mô tế bào thận. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 62 bệnh nhân được chẩn đoán RCC và điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2024–2026. Tất cả bệnh nhân được chụp MRI trước phẫu thuật. Giả vỏ quanh u được đánh giá theo hệ thống MRI-Cap gồm 4 mức độ: MRI-Cap 0 (không có giả vỏ), MRI-Cap 1 (giả vỏ liên tục), MRI-Cap 2 (giả vỏ gián đoạn cục bộ) và MRI-Cap 3 (giả vỏ gián đoạn rõ hoặc mất liên tục trên diện rộng). Mức độ tương hợp giữa MRI-Cap và i-Cap được đánh giá bằng hệ số Cohen's kappa. Mối liên quan giữa MRI-Cap với giai đoạn bệnh học tại chỗ (pT), điểm RENAL và phương pháp phẫu thuật được phân tích bằng các phép kiểm thống kê thích hợp. Kết quả: Nghiên cứu bao gồm 62 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) được phẫu thuật và chụp cộng hưởng từ trước mổ. Giả vỏ quanh u được ghi nhận ở 53/62 trường hợp (85,5%). Theo phân loại MRI-Cap, MRI-Cap 1 chiếm tỷ lệ cao nhất (46,8%), tiếp theo là MRI-Cap 2 (24,2%), MRI-Cap 0 (14,5%) và MRI-Cap 3 (14,5%). Phân loại MRI-Cap có sự tương hợp tốt với phân loại mô bệnh học i-Cap, với tỷ lệ phù hợp chung đạt 85,5% (53/62 trường hợp) và hệ số Cohen’s kappa là 0,758. Tỷ lệ các trường hợp được phân loại đúng theo từng mức i-Cap lần lượt là 100,0% đối với i-Cap 0, 80,0% đối với i-Cap 1, 85,7% đối với i-Cap 2 và 100,0% đối với i-Cap 3. MRI-Cap 3 cho hiệu năng chẩn đoán cao nhất trong dự đoán i-Cap 3, với độ nhạy 100,0%, độ đặc hiệu 98,1% và độ chính xác 98,4%. Ngoài ra, phân loại MRI-Cap có tương quan thuận với giai đoạn bệnh học pT (Spearman rₛ = 0,649; p < 0,001). Phân bố giai đoạn pT khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm MRI-Cap (Fisher–Freeman–Halton exact test, p < 0,001). Đáng chú ý, 88,9% trường hợp MRI-Cap 3 thuộc giai đoạn pT3a, trong khi không ghi nhận trường hợp pT3a nào ở các nhóm MRI-Cap còn lại. Các khối u có MRI-Cap 3 cũng có xu hướng đi kèm điểm RENAL cao và được chỉ định cắt thận toàn phần nhiều hơn. Kết luận: Giả vỏ quanh u là dấu hiệu hình ảnh thường gặp trên cộng hưởng từ ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận. Phân loại MRI-Cap có mức độ tương hợp tốt với i-Cap trên giải phẫu bệnh và liên quan chặt chẽ với giai đoạn bệnh học tại chỗ. MRI-Cap 3 là dấu hiệu gợi ý tình trạng xâm lấn tại chỗ và giai đoạn pT3a, góp phần hỗ trợ phân tầng nguy cơ và lập kế hoạch phẫu thuật trước mổ. Ngô Thị Thu, Vũ Đăng Lưu, Nguyễn Thanh Thủy, Vũ Đức Thành, Nguyễn Thị Khơi, Nguyễn Thị Minh Thức Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1615 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH UNG THƯ PHỔI GIAI ĐOẠN SỚM TRÊN CẮT LỚP VI TÍNH ĐA DÃY Ở BỆNH NHÂN ĐƯỢC PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1641 TÓM TẮT Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả các đặc điểm hình ảnh CLVT đa dãy ngực ở bệnh nhân UTP giai đoạn sớm được phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 89 bệnh nhân UTP giai đoạn sớm (Từ IA đến IIIA) được chụp CLVT đa dãy ngực cản quang trước mổ và có kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật cắt u/thùy phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2025. Dữ liệu xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Trên CLVT, tổn thương tập trung nhiều nhất ở thùy trên phổi phải (38,2%); đường kính trung bình là 2,26 ± 1,0 cm (nhóm >1 - ≤ 2 cm chiếm cao nhất với 42,7%). Mật độ u chủ yếu là dạng đặc (71,9%), bán đặc chiếm 16,9%. Bờ đa cung (60,7%) và bờ tua gai (37,1%) chiếm đa số. Sau tiêm cản quang, 59,6% khối u ngấm thuốc rất mạnh (≥ 20 HU). Về PET/CT, 71,9% tổn thương có SUVmax ≥ 2,5. Hạch trung thất đa số có đường kính ngắn ≤ 10 mm (93,3%) với hình thái lành tính (97,8%). Kết luận: UTP giai đoạn sớm trên CLVT đa dãy biểu hiện chủ yếu là nốt/khối đặc, ưu thế thùy trên phổi phải, bờ đa cung hoặc tua gai và ngấm thuốc cản quang mạnh. CLVT giúp chẩn đoán sớm nhằm lặp kế hoạch điều trị phù hợp. Trần Văn Tuấn, Cung Văn Công, Hoàng Đức Hạ Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1641 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 ĐẶC ĐIỂM SỨC CĂNG CƠ TIM TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ ĐÁNH DẤU ĐIỂM Ở NGƯỜI BỆNH HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1643 Mục đích: Mô tả đặc điểm sức căng cơ tim trên cộng hưởng từ tim đánh dấu điểm (CMR-FT) và nhận xét mối liên quan giữa sức căng với một số thông số cộng hưởng từ khác ở người bệnh hội chứng động mạch vành mạn (HCĐMVM). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 36 người bệnh HCĐMVM được chụp cộng hưởng từ tim 1.5 Tesla; đo sức căng dọc (GLS), sức căng chu vi (GCS) và sức căng bán kính (GRS) toàn bộ thất trái bằng kỹ thuật đánh dấu điểm trên phần mềm Caas MR Strain. Kết quả: Giá trị trung bình GLS −11,9 ± 5,0%, GCS −11,5 ± 5,5% và GRS 22,8 ± 11,2%. Tỷ lệ người bệnh có sức căng giảm theo ngưỡng bệnh lý lần lượt là 72,2% (GLS), 63,9% (GCS) và 50,0% (GRS). Cả ba chỉ số sức căng cơ tim đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có phân suất tống máu thất trái (LVEF) giảm và ở nhóm có ngấm thuốc đối quang từ muộn (LGE) so với nhóm LVEF bảo tồn và không có LGE (p < 0,001). GLS, GCS và GRS đều tương quan chặt với LVEF (Spearman, chặt nhất GCS – LVEF rho = −0,79) và mức độ vừa với tỷ lệ % LGE (rho đến 0,63). GLS và GCS dự báo tốt sự hiện diện sẹo xơ cơ tim, với diện tích dưới đường cong (AUC) lần lượt 0,87 và 0,91. Kết luận: Sức căng cơ tim đo bằng CMR-FT giảm rõ rệt và liên quan chặt chẽ với chức năng tâm thu thất trái cũng như mức độ sẹo cơ tim ở người bệnh HCĐMVM. Sức căng cơ tim là một chỉ dấu định lượng, khách quan, nhạy trong phát hiện sớm rối loạn chức năng cơ tim dưới lâm sàng (khi phân suất tống máu còn bảo tồn) và dự báo tốt khả năng hiện diện sẹo cơ tim – có thể rất hữu ích với những người chống chỉ định tiêm thuốc đối quang từ. Trần Hùng Cường, Nguyễn Ngọc Tráng, Vũ Đăng Lưu, Nguyễn Khôi Việt, Hoàng Nguyên Tài, Nguyễn Văn Tú, Phùng Bảo Ngọc, Hoàng Thị Vân Hoa, Lê Thị Thùy Liên, Trần Thị Lý, Trần Thị Quỳnh, Lê Trung Kiên Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1643 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000 ¹⁸F-FDG PET/CT TRONG ĐÁNH GIÁ LYMPHOMA TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ CAR-T: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1652 Liệu pháp tế bào T mang thụ thể kháng nguyên dạng khảm (chimeric antigen receptor T-cell therapy – CAR-T) đã trở thành một lựa chọn điều trị quan trọng ở bệnh nhân lymphoma tế bào B lớn tái phát hoặc kháng trị. 18F-FDG PET/CT có vai trò trong đánh giá tình trạng bệnh trước truyền và đáp ứng chuyển hóa sau CAR-T. Mục tiêu của báo cáo này là minh họa vai trò của 18F-FDG PET/CT trong đánh giá và theo dõi đáp ứng ở bệnh nhân lymphoma điều trị bằng CAR-T. Chúng tôi trình bày trường hợp bệnh nhân nữ 48 tuổi, lymphoma tế bào B lớn tái phát nhiều lần sau hóa miễn dịch và ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, không đáp ứng với Pola-BR và được chỉ định CAR-T. PET/CT trước truyền ghi nhận nhiều tổn thương lymphoma tăng chuyển hóa FDG, phù hợp bệnh còn hoạt động. Sau truyền CAR-T, bệnh nhân xuất hiện hội chứng giải phóng cytokine độ 3, được điều trị bằng tocilizumab và hỗ trợ vận mạch, sau đó hồi phục. PET/CT khoảng ngày +90 ghi nhận đáp ứng chuyển hóa hoàn toàn, Deauville score 1. Tại thời điểm theo dõi khoảng 18 tháng, bệnh nhân ổn định về lâm sàng và PET/CT tiếp tục ghi nhận đáp ứng chuyển hóa hoàn toàn, Deauville score 1. Trường hợp này minh họa giá trị của 18F-FDG PET/CT trong đánh giá tình trạng bệnh trước CAR-T, đánh giá đáp ứng chuyển hóa sau điều trị và theo dõi sự duy trì đáp ứng theo thời gian. Nguyen Quang Duc, Lê Ngọc Hà, Đinh Văn Thuyết, Nguyễn Văn Xuyên, Lê Công Thuấn, Nguyễn Trung Hiếu Copyright (c) 2026 Tạp chí Điện quang & Y học hạt nhân Việt Nam https://vjrnm.edu.vn/index.php/vjrnm/article/view/1652 T3, 22 Thg 9 2026 00:00:00 +0000