GIÁ TRỊ CỦA CỘNG HƯỞNG TỪ 3.0 TESLA TRONG THEO DÕI SAU CAN THIỆP ĐẶT STENT ĐỔI HƯỚNG DÒNG CHẢY ĐIỀU TRỊ PHÌNH MẠCH MÁU NÃO.

Việt Linh1, , Nguyễn Thái Bình1, Phan Nhân Hiển2, Nguyễn Quang Trung3, Nguyễn Phương Anh3
1 Trường Đại học Y Hà Nội
2 Bệnh viện Đại hoc Y Hà Nội
3 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục Tiêu: Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ 3.0 Tesla trong theo dõi sau can thiệp đặt stent đổi hướng dòng chảy điều trị phình mạch máu não.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả trên 16 bệnh nhân có phình mạch máu não được điều trị bằng stent đổi hướng dòng chảy, được theo dõi bằng cộng hưởng từ 3.0 Tesla (MRI 3T) và chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) tại Trung tâm Chẩn đoán Hình ảnh và Can Thiệp Điện Quang, Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2025 đến tháng 5 năm 2026. Các thông số nghiên cứu tập trung vào đánh giá mức độ tắc túi phình theo thang điểm O'Kelly-Marotta (OKM), phát hiện túi phình tồn dư và hẹp lòng stent. Các phép kiểm định thống kê được sử dụng bao gồm độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác và chỉ số Kappa để đánh giá sự đồng thuận giữa hai phương pháp hình ảnh.


Kết quả: Nghiên cứu gồm 16 bệnh nhân với tuổi trung bình 57,2 ± 12,3 tuổi. Phần lớn túi phình nằm tại hệ động mạch cảnh trong (93,8%), chủ yếu ở đoạn C6 theo phân loại Bouthillier. MRI 3T đạt độ nhạy 66,7%, độ đặc hiệu 100%, độ chính xác 93,8% và giá trị dự báo âm tính 92,9% trong phát hiện túi phình tồn dư; hệ số Kappa giữa MRI 3T và DSA là 0,765. Trong đánh giá mức độ tắc túi phình theo thang điểm OKM, MRI 3T cho mức độ tương đồng rất cao với DSA với Kappa trọng số đạt 0,957. Ba chuỗi xung TOF-MRA, Silent MRA và CE-MRA cho hiệu năng chẩn đoán tương đương nhau trong phát hiện túi phình tồn dư. Trong đánh giá hẹp lòng stent, MRI 3T đạt độ đặc hiệu 100%, độ nhạy 66,7% và mức độ phù hợp tốt với DSA (Kappa = 0,765).


Kết luận: Cộng hưởng từ 3.0 Tesla là phương pháp theo dõi không xâm lấn có giá trị cao sau điều trị phình động mạch não bằng stent chuyển dòng với độ chính xác và độ đặc hiệu cao, có tiềm năng thay thế DSA trong theo dõi định kỳ ở nhiều trường hợp ổn định, góp phần giảm nguy cơ biến chứng và gánh nặng chi phí liên quan đến các thăm khám xâm lấn. Tuy nhiên, DSA vẫn giữ vai trò tiêu chuẩn tham chiếu trong các trường hợp nghi ngờ tồn lưu nhỏ hoặc cần đánh giá chi tiết lòng stent và các nhánh bên liên quan.


 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. M. H. Vlak, A. Algra, R. Brandenburg, and G. J. Rinkel, “Prevalence of unruptured intracranial aneurysms, with emphasis on sex, age, comorbidity, country, and time period: a systematic review and meta-analysis,” Lancet Neurol., vol. 10, no. 7, pp. 626–636, Jul. 2011, doi: 10.1016/S1474-4422(11)70109-0.
2. T. Becske et al., “Pipeline for uncoilable or failed aneurysms: results from a multicenter clinical trial,” Radiology,vol. 267, no. 3, pp. 858–868, Jun. 2013, doi: 10.1148/radiol.13120099.
3. R. Kadirvel, Y.-H. Ding, D. Dai, I. Rezek, D. A. Lewis, and D. F. Kallmes, “Cellular mechanisms of aneurysm occlusion after treatment with a flow diverter,” Radiology, vol. 270, no. 2, pp. 394–399, Feb. 2014, doi: 10.1148/radiol.13130796.
4. T. J. Kaufmann, J. Huston, J. N. Mandrekar, C. D. Schleck, K. R. Thielen, and D. F. Kallmes, “Complications
of diagnostic cerebral angiography: evaluation of 19,826 consecutive patients,” Radiology, vol. 243, no. 3, pp.
812–819, Jun. 2007, doi: 10.1148/radiol.2433060536.
5. J. Burel et al., “Follow-up of Intracranial Aneurysms Treated by Flow Diverters: Evaluation of Parent Artery
Patency Using 3D-T1 Gradient Recalled-Echo Imaging with 2-Point Dixon in Combination with 3D-TOF-MRA with
Compressed Sensing,” AJNR Am. J. Neuroradiol., vol. 43, no. 4, pp. 554–559, Apr. 2022, doi: 10.3174/ajnr.A7448.
6. M. Fréneau, C. Baron-Menguy, A.-C. Vion, and G. Loirand, “Why Are Women Predisposed to Intracranial
Aneurysm?,” Front. Cardiovasc. Med., vol. 9, p. 815668, 2022, doi: 10.3389/fcvm.2022.815668.
7. N. Turan, R. A.-J. Heider, D. Zaharieva, F. U. Ahmad, D. L. Barrow, and G. Pradilla, “Sex Differences in the
Formation of Intracranial Aneurysms and Incidence and Outcome of Subarachnoid Hemorrhage: Review of
Experimental and Human Studies,” Transl. Stroke Res., vol. 7, no. 1, pp. 12–19, Feb. 2016, doi: 10.1007/s12975-
015-0434-6.
8. N. Etminan and G. J. Rinkel, “Unruptured intracranial aneurysms: development, rupture and preventive management,” Nat. Rev. Neurol., vol. 12, no. 12, pp. 699–713, Dec. 2016, doi: 10.1038/nrneurol.2016.150.
9. X. Lv, H. Yang, P. Liu, and Y. Li, “Flow-diverter devices in the treatment of intracranial aneurysms: A meta-analysis
and systematic review,” Neuroradiol. J., vol. 29, no. 1, pp. 66–71, Feb. 2016, doi: 10.1177/1971400915621321.
10. B. Halitcan et al., “The implications of magnetic resonance angiography artifacts caused by different types of
intracranial flow diverters,” J. Cardiovasc. Magn. Reson., vol. 23, p. 69, Jun. 2021, doi: 10.1186/s12968-021-00753-0.
11. S. Xiang et al., “The sensitivity and specificity of TOF-MRA compared with DSA in the follow-up of treated
intracranial aneurysms,” J. Neurointerventional Surg., vol. 13, no. 12, pp. 1172–1179, Dec. 2021, doi: 10.1136/neurintsurg-2020-016788.
12. H. Oishi et al., “Usefulness of Silent MR Angiography for Intracranial Aneurysms Treated with a Flow-Diverter
Device,” AJNR Am. J. Neuroradiol., vol. 40, no. 5, pp. 808–814, May 2019, doi: 10.3174/ajnr.A6047.
13. J. Attali, A. Benaissa, S. Soize, K. Kadziolka, C. Portefaix, and L. Pierot, “Follow-up of intracranial aneurysms treated
by flow diverter: comparison of three-dimensional time-of-flight MR angiography (3D-TOF-MRA) and contrastenhanced MR angiography (CE-MRA) sequences with digital subtraction angiography as the gold standard,” J. NeuroInterventional Surg., vol. 8, no. 1, pp. 81–86, Jan. 2016, doi: 10.1136/neurintsurg-2014-011449.
14. C. O’Kelly, T. Krings, D. Fiorella, and T. Marotta, “A Novel Grading Scale for the Angiographic Assessment of Intracranial Aneurysms Treated Using Flow Diverting Stents,” Interv. Neuroradiol. J. Peritherapeutic Neuroradiol. Surg. Proced. Relat. Neurosci., vol. 16, pp. 133–7, Jun. 2010, doi: 10.1177/159101991001600204.
15. D. M. Mandell et al., “Intracranial Vessel Wall MRI: Principles and Expert Consensus Recommendations of the American Society of Neuroradiology,” AJNR Am. J. Neuroradiol., vol. 38, no. 2, pp. 218–229, Feb. 2017, doi: 10.3174/ajnr.A4893