Đặc điểm hình ảnh và giá trị của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán tắc ruột quai đóng do dải xơ dính

Đoàn Thanh Thuỷ1, , Lê Tuấn Linh2, Phan Nhân Hiển3
1 trường Đại học Y Hà Nội
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh trên cắt lớp vi tính (CLVT) ở bệnh nhân (BN) tắc ruột quai đóng (TRQĐ) do dải xơ dính và xác định giá trị của CLVT trong chẩn đoán và dự báo biến chứng thiếu máu/ hoại tử ruột ở bệnh nhân tắc ruột quai đóng do dải xơ dính.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu, thu thập dữ liệu từ 200 bệnh nhân được chẩn tắc ruột và phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 12 năm 2025.


Kết quả: Nghiên cứu trên 200 bệnh nhân tắc ruột và được phẫu thuật có 49 BN TRQĐ (chiếm 24,5%) và 151 BN tắc ruột không phải quai đóng (chiếm 75,5%). Trong số 49 BN TRQĐ có 33 bệnh nhân do dải xơ dính (chiếm 67,3%), 12 bệnh nhân do thoát vị nội và ngoại (chiếm 24,5%) và 4 bệnh nhân do xoắn ruột (chiếm 8,2%).


Trên CLVT ở 33 BN TRQĐ do dải xơ dính, dấu hiệu dải xơ dính có độ nhạy (12,1%), độ đặc hiệu (100%), giá trị dự báo dương tính (100%), giá trị dự báo âm tính (35,6%). Các dấu hiệu mực nước – hơi, dấu hiệu mỏ chim, dấu hiệu có ít nhất 2 điểm chuyển tiếp có độ nhạy cao lần lượt là 97%; 75,8%; 93,9% nhưng độ đặc hiệu thấp lần lượt là 6,3%; 31,3%; 18,8%. Các dấu hiệu quai ruột hình chữ U/C và dấu hiệu xoáy nước có độ nhạy thấp lần lượt là 9,1% , 12,1% nhưng độ đặc hiệu khá cao đều là 68,8%. Dấu hiệu vành tia có giá trị dự báo dương tính khá cao là 76%.


Trên CLVT ở 33 BN TRQĐ do dải xơ dính, dấu hiệu phù/thâm nhiễm mỡ mạc treo và dịch tự do ổ bụng có độ nhạy và giá trị dự báo âm tính đều là 100%, tuy nhiên dấu hiệu phù/ thâm nhiễm mỡ mạc treo có độ đặc hiệu và giá trị dự báo dương tính khá cao lần lượt là 71,4% và 66,7% còn dịch tự do ổ bụng có độ đặc hiệu và giá trí dự báo dương tính thấp lần lượt là 4,8% và 37,5%. Các dấu hiệu thành ruột ngấm thuốc kém, mạch máu mạc treo ngấm thuốc kém, khí thành ruột/ tĩnh mạch cửa có độ đặc hiệu và giá trị dự báo dương tính đều là 100%. Dấu hiệu dày thành ruột ở quai ruột giãn, dấu hiệu thành ruột ngấm thuốc hình bia có độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính và âm tính cao lần lượt là 95,2%, 88,9%, 83,3% ở dấu hiệu dày thành ruột ở quai ruột giãn và 95,2%, 80%, 71,4% ở dấu hiệu thành ruột ngấm thuốc hình bia.


Kết luận: Dải xơ dính là nguyên nhân chủ yếu gây ra tắc ruột quai đóng. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào dấu hiệu gián tiếp như hình ảnh mỏ chim hay vành tia để nhận biết, hình ảnh dải xơ dính tuy đặc hiệu nhưng khó nhận biết trên CLVT. Thành ruột ngấm thuốc kém, mạch máu mạc treo ngấm thuốc kém và khí thành ruột/ tĩnh mạch cửa là dấu hiệu chỉ điểm có độ đặc hiệu cho thiếu máu/hoại tử thành ruột.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. R. A. Makar và c.s., “Diagnostic performance of MDCT in identifying closed loop small bowel obstruction”, Abdom
Radiol (NY), tập 41, số 7, tr 1253–1260, thg. 7 2016, doi: 10.1007/s00261-016-0656-4.
2. “Sách Cấp Cứu Ngoại Khoa Y Hà Nội Tập 1 PDF”. Truy cập: 13 Tháng Bảy 2025. [Online]. Có tại: https://testyhoc.
vn/sach-cap-cuu-ngoai-khoa-y-ha-noi-tap-1-pdf
3. “Sách Bài Giảng Triệu Chứng Học Ngoại Khoa Y Hà Nội PDF”. Truy cập: 13 Tháng Bảy 2025. [Online]. Có tại:
https://testyhoc.vn/sach-bai-giang-trieu-chung-hoc-ngoai-khoa-y-ha-noi-pdf
4. E. J. Balthazar, B. A. Birnbaum, A. J. Megibow, R. B. Gordon, C. A. Whelan, và D. H. Hulnick, “Closed-loop and strangulating intestinal obstruction: CT signs.”, Radiology, tập 185, số 3, tr 769–775, thg. 12 1992, doi: 10.1148/radiology.185.3.1438761.
5. D. D. Maglinte, H. Herlinger, và D. J. Nolan, “Radiologic features of closed loop obstruction: analysis of 25 confirmed cases”, Radiology, tập 179, số 2, tr 383–387, thg. 5 1991, doi: 10.1148/radiology.179.2.2014278.
6, A. Mbengue và c.s., “Closed loop obstruction: pictorial essay”, Diagn Interv Imaging, tập 96, số 2, tr 213–220, thg.
2 2015, doi: 10.1016/j.diii.2013.10.011.
7. K. M. Elsayes, C. O. Menias, T. L. Smullen, và J. F. Platt, “Closed-Loop Small-Bowel Obstruction: Diagnostic Patterns by Multidetector Computed Tomography”, Journal of Computer Assisted Tomography, tập 31, số 5, tr 697,
thg. 10 2007, doi: 10.1097/RCT.0b013e318031f516.
8. V. Cox, A. Tahvildari, B. Johnson, W. Wei, và R. Jeffrey, “Bowel obstruction complicated by ischemia: analysis of
CT findings”, Abdominal Radiology, tập 43, thg. 12 2018, doi: 10.1007/s00261-018-1651-8.
9. S. Rha và c.s., “CT and MR Imaging Findings of Bowel Ischemia from Various Primary Causes1”, Radiographics :
a review publication of the Radiological Society of North America, Inc, tập 20, tr 29–42, thg. 1 2000, doi: 10.1148/
radiographics.20.1.g00ja0629.
10. Y. Geffroy, I. Boulay-Coletta, M.-C. Jullès, S. Nakache, P. Taourel, và M. Zins, “Increased Unenhanced Bowel-Wall
Attenuation at Multidetector CT Is Highly Specific of Ischemia Complicating Small-Bowel Obstruction”, Radiology,
tập 270, số 1, tr 159–167, thg. 1 2014, doi: 10.1148/radiol.13122654.
11. Phạm T. T., Nguyễn D. H., và Nguyễn D. H., “TẮC RUỘT QUAI ĐÓNG: GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA CẮT LỚP VI
TÍNH ĐA DÃY”, VMJ, tập 507, số 2, thg. 12 2021, doi: 10.51298/vmj.v507i2.1445